Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN ĐỜI-CHUYỆN NGƯỜI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN ĐỜI-CHUYỆN NGƯỜI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

Nghệ sĩ Tòng Sơn – “đệ nhất khẩu cầm” của Việt Nam


  • Đông Kha

Từ những năm thập niên 1950 trở đi, làng văn nghệ Sài Gòn xuất hiện một nghệ sĩ được gọi là “quái kiệt”, khi ông có biệt tài vừa thổi harmonica vừa uống bia hay ăn chuối, hoặc thổi cùng lúc 2 chiếc kèn bằng mũi. Đó là nghệ sĩ Tòng Sơn – “đệ nhất khẩu cầm” của Việt Nam.
Nghệ sĩ harmonica Tòng Sơn tên thật là Dương Ngô Tòng, sinh ra năm Canh Ngọ 1930 ở miền Tây Nam Bộ. Tuổi thơ của ông là những chuỗi ngày chạy giặc và sống trong hoàn cảnh nghèo khổ.
Nghệ sĩ Tòng Sơn
Cơ duyên đến với bộ môn thổi kèn harmonica của Tòng Sơn là từ năm 16 tuổi, trong lúc chạy loạn, ông đã vô tình lượm được cây kèn harmonica của một lính Pháp đánh rơi trong đống đổ nát. Từ thời điểm đó, ông cũng như là đã “lượm” được chính cuộc đời mình, vì đó là một bước ngoặt rất lớn.
Bị tò mò, thu hút bởi những âm thanh phát ra từ cái harmonica, cứ rảnh rỗi ông lại lôi kèn ra thổi, từ những âm ngắt quãng, hụt hơi cho đến những đoạn ngân dài hơn… Ông phát hiện ra mình có sự nhạy cảm với âm thanh và hợp với loại kèn này, từ đó trở đi đã trở thành vật bất ly thân của mình. Thời điểm thập niên 1940, hầu như không có người dạy thổi harmonica nên ông chủ yếu tự mày mò sau khi học vỡ lòng với ông cậu biết sơ sơ về kèn.
Vì lận đận mưu sinh cơm áo nên nghệ sĩ Tòng Sơn đến với nghệ thuật khá muộn. Năm 1950, rời quê miền Tây để lên Sài Gòn làm thợ sắp chữ trong một nhà in, ông không quên mang theo cây kèn “lượm mót”. Ngày đi làm, đêm về chàng thanh niên 20 tuổi lại trút nỗi buồn xa nhà vào chiếc kèn. Ông nói rằng chỉ thổi vì yêu thích chứ chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nghệ sĩ. Nhưng với sự động viên khích lệ của bạn bè, ông vẫn chuyên tâm luyện tập.
Vài năm sau đó thì may mắn mỉm cười, ông được trúng tuyển cuộc thi “Tuyển lựa tài tử” do Đài Phát thanh Pháp Á tổ chức, chính thức bắt đầu con đường nghệ thuật đang mở rộng thênh thang trong bối cảnh đời sống văn nghệ tự do cởi mở và rất sôi động ở Sài Gòn thời đó.
Tên tuổi Tòng Sơn bắt đầu nổi tiếng, ông nghĩ ra nhiều cách biểu diễn để thu hút khán giả, kết hợp giữa âm nhạc và tạp kỹ.
Trong một lần được đi xem nghệ sĩ harmonica người Mỹ đến Sài Gòn biểu diễn rất điêu luyện và được khán giả tán thưởng rất nhiệt liệt, ông có quyết tâm làm một cái gì đó để chứng tỏ người Việt không thua kém. Ông tập vừa ăn chuối vừa thổi kèn, nhưng ban đầu không dám đem ra biểu diễn. Trong một lần về biểu diễn ở Cần Thơ, ông đánh bạo giở ngón nghề đã khổ luyện trong thời gian dài ra, không ngờ được khán giả đón nhận. Ông có tự tin hơn và mang về Sài Gòn biểu diễn, đạt được thành công ngoài mong đợi.
Nhân đà đó, nghệ sĩ Tòng Sơn mày mò tìm chiêu mới, đó là vừa uống nước ngọt vừa thổi. Năm 1957, trong tiệc cưới của ca sĩ Duy Mỹ trong ban Tam Ca Sao Băng, nhóm bạn của Tòng Sơn là nhạc sĩ Khánh Băng, Phùng Trọng đề nghị ông “nâng cấp” màn biểu diễn: thay nước ngọt bằng bia. Sau đó, những tiết mục của ông đã được công chúng xếp vào danh mục biểu diễn của các nghệ sĩ tôn xưng là “quái kiệt” như Ba Vân, Trần Văn Trạch. Đó là một vinh dự rất lớn, vì danh hài Tùng Lâm trong thời đỉnh cao cũng chỉ được gọi là “tiểu quái kiệt” mà thôi.
Nghệ sĩ Tòng Sơn ước tính rằng trong cuộc đời biểu diễn hơn 70 năm của mình, ông đã ăn hơn 10 tấn chuối, hàng chục nghìn chai bia qua các màn diễn.
Tòng Sơn trở thành sao hạng A trong làng giải trí miền Nam, được mời đi lưu diễn khắp nơi trên thế giới qua các nước như: Lào, Campuchia, Mỹ, Nhật, Pháp, Ý, Đức, Úc… Thời đỉnh cao của mình, mỗi ngày ông nhận đến 5 show diễn, tiền cát-sê mỗi tháng ít nhất là 200.000 đồng, tính theo giá vàng thời đó thì ông có thể mua được cả trăm cây vàng trong vài năm sự nghiệp. Nhưng tất cả những vinh quang rực rỡ đó chấm dứt vào năm 1975.
Tâm sự trên một bài báo, ông cho biết:
Nếu tui biết tiết kiệm thì đã không phải sống cảnh “nay đây mai đó” như bây giờ. Thời vàng son với nghề, tiền tui kiếm được dư mua nhà to nhà lớn ở đất Sài Gòn này. Nhưng mà lúc đó cứ nghĩ mình còn trẻ, sức lực, tài nghệ và cả khán giả ủng hộ nên tui chẳng tính đến đường lui lúc cuối đời”.
Năm 2020, nghệ sĩ Tòng Sơn tròn 90 tuổi, sống một mình trong phòng trọ khoảng 13 mét vuông tại con hẻm ở quận 3. Tuổi già bệnh tật, ông không đủ sức đi diễn nhiều để trang trải cuộc sống như trước. Ông từng lập gia đình nhưng đã ly hôn. Hiện vợ cũ ông sống ở nước ngoài. Ông có 10 người con, nhưng đều nghèo túng, không giúp nhiều cho cha.
Năm 2018, ông từng phải nhập viện vì nhiều bệnh tuổi già: huyết áp, suy nhược cơ, tim mạch… và phải nhờ tới sự giúp đỡ của các bạn bè đồng nghiệp và người hâm mộ.
Đông Kha
Mời các bạn thưởng thức tài nghệ của nghệ sĩ Tòng Sơn >>> https://youtu.be/Dyb9Gn3rYZ8
__________________________________________________
Nguồn: https://www.facebook.com/ly.le.71404/posts/3302522039811347 

Tủ Sách Vương Hồng Sển


  • Vương Hồng Sển
Cụ Vương Hồng Sển
Nhiều người, thiên tư phú tánh, biết làm thi phú từ bé thơ. Người thì vừa tu oa đã là ông hoàng bà chúa! Người chơi sách không đẻ bọc điều như vậy. Cũng có người tốt phước hưởng của phụ ấm hoặc có sẵn tủ sách của cô bác cha mẹ lưu truyền lại. Nhưng phần đông, tự tạo lấy mình và phải trọng tuổi mới hiểu thấu đáo thú chơi sách và biết giá trị bộ nào hay, bộ nào dở. 
Có khi khác vì một dịp may nhờ một cơ hội thuận tiện, khi nghe đồn trong một buổi dạ hội hay tiếp tân. Khi thấy trong mục quảng cáo trong tờ báo hoặc nhơn khi đi xem một cuộc triển lãm, viếng viện bảo tàng hay vào thư viện công cộng rồi nảy ra ý sưu tầm và chơi sách.

Từ thưở nhỏ, tôi đã là một con sâu đọc sách. Tôi đọc bất luận sách, truyện, thơ, tuồng, đọc để mà đọc. Lúc ấy tôi như con tằm ăn lá dâu, ăn để mà ăn, ăn thật nhiều, thật no chứ chưa biết kén lá ngon lá tệ. Sách đẹp, sách đóng bìa khéo tôi chưa biết thưởng thức, vì khi đọc, tôi đọc bất cứ nơi nào, trên giường, trên võng, kẹt sân. Đi đâu tôi cũng có thủ sẵn một xấp giấy, một cuốn sách để đọc và đọc như thế, sách đóng bìa đẹp chỉ là bề bộn. Mình sợ hư, sợ rách đã bớt hứng thú không ít vậy. Năm ra trường, lập gia đình, trước tiên tôi mua sách nhưng cốt ý để khỏi mượn nhờ chớ cũng chưa có lập tâm sắm sách như tiền nuôi heo bỏ ống.

Năm 1926, gia đình tan rã lần đầu mà cũng lần đầu tiên tôi nhìn thấy cuốn sách là một bạn tốt, tốt hơn vợ và bạn trai nhiều. Nhờ trả phố, bán đồ thập vật để theo ở đậu ăn cơm tháng cho thêm tự do, tôi có một số tiền lưng khá gọi là lớn vào thời ấy: một ngàn bạc năm 1926. Vừa đúng lúc báo “L’Impartical rao bán một tủ sách của một học giả Pháp vừa từ trần. Tôi làm gan tìm nhà hỏi mua. 
Tôi gặp một bà đầm già, chồng vừa mất, nay định về Tây an hưởng tuổi nhàn nên muốn bán đi bớt phân nửa số sách của chồng để lại. Tủ sách gồm lối hai ba trăm quyển, chia ra làm hai bộ y như nhau:
Một bộ bìa da đỏ, mạ vàng, bà chỉ cho xem nhưng nói trước nhứt định không bán vì bà muốn giữ lại làm kỷ niệm của chồng. 
Tôi nhìn kỹ, quyển nào cũng còn mới, không lem luốc, thêm có phần đẹp đẽ, sắc sảo nữa là khác. Tôi tiếc quá, trong bụng thầm muốn nài trả giá cao để mua sách như vầy cho khỏi sợ vi trùng truyền nhiễm. Nhưng bà lắc đầu, chỉ cho tôi bộ thứ hai, độ non một trăm quyển, y hệt như bộ trước, duy khác là lớp đóng bìa da đen, lớp đóng bìa vải đen. Xem có phần xấu xí, hư tệ hơn bộ kia. Bà nói đây là bộ sách của chồng thường dùng trong khi nghiên cứu và viết lách. Như cần dùng, bà sẵn lòng để rẻ.

Tôi lật thử xem thì sách không vừa bụng, phần nhiều có gạch bút chì xanh đỏ lăng nhăng và thêm bớt nhiều chỗ nhiều đoạn bằng chữ viết tay quằn quèo. Bìa sách cũng đã đúng tuổi, lùi xùi tơi tả, không ưng ý chút nào. Tôi giả đò chê sách hư, sách rách và nói chỉ thích bộ trước bao nhiêu tôi cũng sẵn lòng mua. Bà nghe tôi chê, có ý sợ tôi bỏ đi thì không còn ai xử giùm bà mớ sách dư xài ấy, nên bà hạ giọng thiết tha:
– Sách nầy không đâu có. Mua không phí tiền đâu mà sợ! Chồng tôi xưa trọng dụng nó và quý vô ngần. Thầy không mua, tôi đem về Pháp sẽ hiến cho thư viện quốc gia. Chỉ vì thân già, một bộ mang đi cũng đủ nhọc, hai bộ thì nó bận chân vướng cẳng thêm cho gì. Như thầy ưng mua, tôi tính nới, dứt giá một trăm sáu chục đồng (160$) tám mươi bốn cuốn sách.

Ối là rẻ, Chúa ơi là Chúa!! Tôi mừng quá, lật đật chi tiền và không quên ép bà biên cho ba chữ nay còn để dành trong hồ sơ:
Saigon le 30 Aout 1926
Recu de Monsieur Vuong Hong Sen
La somme de Deux cent soixante piasters pour la vente de 84 livers provenant de la bibliothèque de mon mari – y compris le grand Dictionnaire chinois de Mr de Guignes, édition de 1913, don’t le prix est de Cent piastres
Je dis 84 livres. Signé: Vve J.C.BOSCQ
(Timbre de quittance de 0$12)

Đọc tờ biên nhận, nay đã biết chồng bà tên J.C Boscq. Nếu đã hài danh, hài tánh mà các bạn vẫn không quan tâm đến nhơn vật này thì việc cũng nên tha thứ, tha thứ cho tuổi trẻ trung của các bạn mà tôi thèm thuồng. Tha thứ cho lối hành văn lẩn thẩn quên nói lão chết đã ba mươi ngoài năm ai tài nào nhớ nổi!

Kỳ trung ông Boscq nhà ở một con đường với anh Nguyễn Hiến Lê trên Tân Định (nay là đường Huỳnh Tịnh Của) là môn đệ của cụ Trương Vĩnh Ký, lão thông Nho học, nói giỏi tiếng Việt từng cộng sự với ông Diệp Văn Cường và Nguyễn Văn Mai. Ông vốn là thông dịch quan của Tòa tư pháp, tác giả quyền “Méthode de lecture Boscq”, lại là một nhà chơi sách khét tiếng thời ấy.

Không dè với hai trăm sáu chục bạc, tôi nghiễm nhiên trở nên người nối nghiệp cho ông để cất giữ những sách hư rách và bụi bặm nhưng quý vô giá đối với thời buổi hiện tại. Và nhờ có duyên kiếp trước, rõ lại những sách bà đầm mang về Pháp tuy còn mới nhưng tên tuổi không nhiều như những sách tôi mua được. Gồm những bộ có chữ ký và chữ viết của các soạn giả đồng thời với ông Boscq như các cụ Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký… Tôi dạn thêm và hỏi bà còn những gì muốn bán cho gọn nữa chăng?

Khi ấy bà đưa tôi vào văn phòng của chồng bà, tôi thấy sách mà ngốt nhưng toàn những bộ dễ kiếm, có tiền là mua được ngay từ bên Pháp chuyển sang. Tôi để ý và hỏi nài được quyển tự điển Hoa – Pháp – Latinh (Dictionnaire chinois – francais – latinh) của de Guignes, tôi mua một trăm bạc về sau bán ra được hai ngàn năm trăm đồng (sau 1954). Tự điển de Guignes in năm 1813, cho ta biết nếu hoàng đề Napoleon không thất trận Waterloo, có thể dám đánh luôn để thâu đoạt Trung Hoa và Việt Nam cũng chưa biết chừng. Vì chưa chi mà Napoleon đã sai sứ thần tại Bắc Kinh, de Guignes, dọn cho người biết văn hóa và tiếng nói Trung Quốc: hoặc Napoleon toàn thắng sẽ làm bá chủ hoàn cầu hoặc ông bại trận vì tay kiệt xuất Anh quốc rồi các thuộc địa Pháp sang qua tay Hồng mao và cuộc thế miền Đông Nam Á tế Á đổi khác sớm hơn bây giờ.

Nhưng không giỏi gì xây dựng trái đất bằng chữ “nếu”, trở lại thực tế, khi ra về, tôi thấy bỏ xó kẹt một gói giấy nhựt trình, tuy chưa biết trong ấy gói những sách gì, tôi cứ hỏi mua. Bà đưa nghiêng mắt liếc sơ gói giấy rồi lên giọng đài các:
“Ối! Đó là sách chữ Tàu, không biết nói gì ở trỏng! Tôi không định bán, nhưng cũng không biết bao nhiêu mà định. Thầy mua sách tôi đã nhiều, cứ lấy về chơi. Tôi cho thầy đó”

Cám ơn, từ giã, ôm về, chải bụi, o bế và xem kỹ: Mẹ ôi! Đó là bộ “Hoàng Việt luật lệ đời Gia Long”, mỗi quyển có ấn chữ son “Khâm sai đại thần”. Sau tôi tra cứu và hỏi thăm, gặp ông Cao Văn Sự Đốc phủ, từng biết ông Boscq, ông Sự cho tôi rõ, ông Boscq lãnh của thầy là Trương Vĩnh Ký bộ sách có chữ ấn son “Khâm Sai Đại Thần” nầy vốn là sách quý do binh Pháp lấy được nơi đồn Khải Tường của đại tướng Nguyễn Tri Phương, như vậy bà Boscq đã biếu tôi một bộ sách vô giá (1-2-1989)
Nói chí đáng, những sách tôi mua thì tôi cho rằng quý; đến ngày nay sau trận loạn 1945-1946, sách vở trở nên khan hiếm, chớ trước năm 1945, những nhà chơi sách lo sắm sách Pháp, Montaigne, Anatole France, Jules Romains chớ ít để ý đến sách khảo về văn minh Trung Hoa. Trước nhà ga Sài Gòn, có nguyên một dãy phố lầu của các chú bán lạc son những sách nữa sạc mà đâu có ai ngó ngàng đếm xỉa?

Chính tôi mua tại đó nhiều bộ rẻ mạt: bộ sử Việt của Trương Vĩnh Ký, ba quyển ba hào (0$30), bộ Abrégé de l’histoire d’Annam của Alfred Schreiner, còn mới, năm cắc (0$50), quyển sử Việt de Launay, một cắc (0$10)

Mấy năm binh Nhật tràn lan đất Việt có nhà Tín Mỹ dọn một căn phố lớn Gia Long, bán kính với Huê kiều, toàn những sách cũ mua nới đem về o bế lại. Làm ăn đương xân xẩn, kế bị bom nổ, mạnh ai về xứ nấy, khi trở lên, nhà Tín Mỹ dẹp hồi nào không ai hay biết. Lão Tín Mỹ mê cá ngựa bị ngựa đá, tiêu tùng, mất tích luôn từ đó.

Đường Gia Long, ngang bộ kinh tế ngày nay có nhà tầm tầm thỉnh thoảng bán sách của người Pháp phát mãi. Cả đống sách của trường Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de L’École Francaise d’Extreme-Orient) một xe bò chở không hết, bán ra không đến năm chục bạc (50$). Không như ngày nay, một bộ môn đầy đủ của tập san nầy, từ năm 1901 trở lại đây, nếu có, bán không dưới hai trăm ngàn bạc! Năm ni 1989 có bạc triệu cũng không mua được (1-2-1989)

Tôi còn nhớ một năm nọ, giáo sư Neumann từ trần, ông là nhà chơi sách khét tiếng Sài Gòn, sách đem pháp mãi, nhiều bộ tròm trèm một ngàn bạc, buổi ấy (lối 1940) ai cũng cho rằng bán được tiền.
Ngoài ra còn nhiều nhà Pháp chơi sách cẩn thận, nhưng khi thôi ở bên nầy thì chuyển chở về xứ… Có nhiều ông như quan năm Seé, mỗi tuần mỗi nhận từ Pháp sách mới, rọc coi rồi bày bán đường Tự Do không để dành. Trái lại cựu thống đốc Nam Kỳ, Pagès, mua sách loại đắt tiền, sai thơ ký rọc bằng dao tre, sách càng lùi xùi thơ ký càng mau thăng chức. Sách ông Pagès nhà đóng sách Nguyễn Văn Châu ăn tiền bộn nhưng sau không biết ra sao.

Tạp chí Xưa & Nay số tưởng nhớ Vương Hồng Sển
Trong giới người Việt biết yêu sách, tôi có quen một ông, tánh tình hiền lành nhưng rất khó đối với sách: quyển nào anh em mượn, trả về có chút hư hao, ông không nói gì, sai đem bán lấy tiền đắp thêm mua cuốn mới. Đó là ông Đoàn Quan Tấn.

Một ông cưng sách như trứng mỏng, cắp nắp ôm đồm từ những quyển học trường lớn bên Pháp đến những tập hai ba xu Việt văn. Việt Minh bùng dậy, phá làng đốt xóm. Tủ sách ông ra tro. Từ ấy, tóc ông càng bạc thêm, ông chuyên về tu hành, nghiên cứu Phật giáo, những ai dở chuyện sách ra nói, mí mắt ông ướt hồi nào không hay. Đó là ông Phạm Văn Còn.

Một ông nữa cắp ca cắp củm, sưu tập nhiều bộ nếu nay còn là một kho tàng quý giá vô cùng, vì ông là nhà khảo cứu chuyên về sử học Việt Nam. Không bộ sách nào ông không có, nào Khâm Định, nào Thật lục, đủ cả, luôn những bộ môn sách Pháp như bộ Đô thành hiếu cổ, bộ Viễn Đông bác cổ, kịp năm loạn lạc, lớp bị đốt, lớp Tây lấy, lớp người ta dọn. Ông chỉ còn một cái cười hồn nhiên của nhà học giả chơn chánh, không buồn sắm nữa, cũng không hít hà! Đó là ông Lê Thọ Xuân.

Tháng 5 năm 1960, báo Văn Hữu phá chơi kể ra những tủ sách quý nay không còn: thư viện Phạm Quỳnh, thư viện Phạm Liệu, thư viện Đào Duy Anh, thư viện Dương Tấn Tươi, có cả tủ sách anh bạn thân Lê Ngọc Trụ. Còn nhiều thư viên đầy đủ hơn nữa, nhưng vì chưa biết nên tác giả trong báo Văn Hữu chịu làm thinh. Kể ra tác giả cũng khéo tọc mạch chuyện người và khéo giấu tên mình, nhưng giấu làm sao được vì khi tả chân “buổi trời nước bình bồng” của lão già họ Vương thì lão ấy biết rõ ai kia được rồi! Ma mà bắt tác giả thọc mạch thóc mách!…

Vương Hồng Sển
___________________________________________
Nguồn: https://www.facebook.com/ly.le.71404/posts/3372723052791245 
__________________________________________________________________



Đằng nào thì cũng phải nói về một câu chuyện buồn.

  • Nguyễn Thế Thanh 

Một câu chuyện buồn nhưng liên quan đến hai nhân vật, người nào cũng rất nổi tiếng: Vương Hồng Sển và Trần Văn Khê.

Di tích quý giá công nhận gần 20 năm mà không phát huy được giá trị

Ở Sài Gòn và toàn miền Nam trước năm 1975, mấy ai không biết đến tên Vương Hồng Sển (1902 - 1996). Giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam trước và sau năm 1975 rất kính trọng ông vì sự hiểu biết sâu rộng về văn hóa miền Nam, về cổ học và sự nghiệp sưu tập đồ cổ. Cả đời mình, ông đã tích cóp lần hồi để sở hữu được bộ sưu tập vô giá với 849 cổ vật khác nhau cùng với ngôi nhà cổ (Vân Đường Phủ) mà ông đã cất công tìm kiếm mua về nguyên căn từ vùng ngoại ô Sài Gòn.

Nằm lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng, bên cạnh là hàng quán cà phê,
 quán ốc mọc lên vô cùng nhếch nhác, ít ai biết rằng ngôi nhà này
 từng là nơi ở của vị học giả nổi tiếng Vương Hồng Sển.
Căn nhà này (số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh) nằm trên một khu đất cùng với những căn nhà trực thuộc bên ngoài khuôn viên nhà cổ do ông sở hữu đã từng được định giá xấp xỉ một ngàn lượng vàng ở thời điểm ông viết di bút trước khi mất (1996).

Do không có được người thừa kế đồng chí hướng về văn hóa và cũng do những khó khăn riêng của con trai mà ông đã đi đến quyết định hiến tặng cho nhà nước quản lý toàn bộ bộ sưu tập đồ cổ, sách quý, đồ gia dụng cổ trong ngôi nhà với lời đề nghị “Thành lập bảo tàng tư nhân mang tên Vương Hồng Sển, sách quý và cổ vật trưng bày tại chỗ, không được mang ra khỏi nhà” (di chúc công chứng ngày 27.6.1995). Ngoài ra, trong một di bút khác ông cũng có lời đề nghị Nhà nước chăm sóc, chu cấp cho 3 cháu nội của ông được ăn học thành tài và có một nơi để sinh sống.

Gần nửa thế kỷ sống ở ngôi nhà cổ Vân Đường Phủ, Vương Hồng Sển không chỉ bỏ nhiều công sức cho việc bài trí mà còn tạo dựng một phong cách sinh hoạt cho chính ông và các thành viên trong gia đình phù hợp với nét cổ xưa bên trong và bên ngoài ngôi nhà. Các tạp chí danh tiếng như Times, Newsweek… từng đến đây tìm hiểu, giới thiệu về ngôi nhà chứa đựng nhiều giá trị văn hóa này.

Để có thể thực hiện đúng tinh thần di nguyện của học giả Vương Hồng Sển, từ năm 1997 các cơ quan chức năng về văn hóa, tư pháp, địa chính của thành phố đã triển khai thực hiện các biện pháp kiểm kê, bảo vệ cổ vật và sách qúy của cụ Vương trước khi hoàn tất thủ tục ngôi nhà để làm nơi trưng bày, tổ chức cho công chúng tham quan.

Vào tháng 8.2003, UBND TP ban hành quyết định xếp hạng di tích cấp thành phố đối với nhà của cụ Vương Hồng Sển là “Di tích Kiến trúc nghệ thuật Nhà cổ dân dụng truyền thống”, nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong những khu vực di tích đã khoanh vùng bảo vệ.

Học giả Vương Hồng Sển (giữa) tiếp các nhà báo nước ngoài
tại Vân Đường Phủ.
 

Nhà nước đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm chu cấp tiền ăn học cho 3 cháu nội của cụ Vương đến khi các cháu qua 18 tuổi. Các cổ vật và sách quý của cụ Vương đã và đang được bảo quản ở bảo tàng và thư viện. Vậy thì, còn điều gì khiến cho Vân Đường Phủ - Di tích Kiến trúc nghệ thuật Nhà cổ dân dụng truyền thống độc đáo về văn hóa vật thể và phi vật thể không thể đi vào hoạt động như mong muốn của cụ Vương và những người yêu mến các giá trị văn hóa, từ đó đẩy di tích văn hóa quý giá này đến trước nguy cơ bị “mất”? Và, còn có thể làm gì để cứu vãn?

Tự hỏi thì xin tự trả lời trước, xem như là đề nghị của một công dân quan tâm đến các giá trị văn hóa.

Điều thứ nhất, nhà nước cần cấp ngay một chỗ ở có giá trị sinh sống (ở và khai thác thương mại được) cho các cháu nội của cụ Vương. Chỗ ở này đứng tên chung 3 chị em chứ không đứng tên riêng một ai, vì trên thực tế cụ Vương không có yêu cầu này. Việc giải quyết căn nhà này phải thể hiện được tinh thần: hậu duệ phải tôn trọng ý nguyện của cụ Vương - người chủ sở hữu khối tài sản “Dùng nhà cổ Vân Đường Phủ làm bảo tàng mang tên Vương Hồng Sển”. Mà, đã là bảo tàng thì phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật, không một ai có thể vào ở trong đó.

Gian phụ ngôi nhà, phòng đọc sách và làm việc của cụ Vương
lúc sinh thời được các con cháu dùng làm nơi sinh hoạt.
Việc lưu giữ các di sản của tiền bối trong gia tộc cho đời sau và cho công chúng các thế hệ biết tới cũng là trách nhiệm của con cháu, không nên vì bất cứ lý do gì để đòi hỏi các quyền lợi thuần túy vật chất, theo cách phi pháp càng không thể, để làm tổn hại tới một di sản văn hóa mà cụ Vương dồn tâm huyết tạo dựng, mong muốn gìn giữ, phát huy và đã được nhà nước công nhận, thể hiện trong công văn của UBND TP số 780-CV-UB/VX ngày 1.4.1999 và quyết định số 140/2003/QĐ-UB ngày 5.8.2003.

Điều thứ hai, trong quá trình thực hiện điều thứ nhất, cơ quan chức năng về quản lý văn hóa cấp thành phố cần phối hợp với chính quyền địa phương triển khai thực hiện ngay trách nhiệm bảo vệ, quản lý ngôi nhà 9/1 Nguyễn Thiện Thuật theo Luật Di sản Văn hóa quy định, thể hiện trong quyết định của UBND TP số 140, ngày 5.8.2003.

Điều thứ ba, song song với thực hiện các điều trên, cơ quan chuyên môn của Sở Văn hóa - Thể thao khẩn trương chuẩn bị kế hoạch, phương án tổ chức trưng bày bên trong ngôi nhà và cảnh quan sân vườn trước và sau để khi đã hoàn tất các điều kiện cần thiết có thể đưa ngay Di tích Kiến trúc nghệ thuật Nhà cổ dân dụng truyền thống mang tên Vương Hồng Sển vào hoạt động, phấn đấu vào dịp 25 năm ngày mất của cụ Vương.

Trong khi tiếp tục chờ đợi các giải pháp nhằm cứu vãn nguy cơ “mất đi” một di sản quý đã được pháp luật bảo vệ bằng văn bản pháp lý, thì đành đối diện với nỗi buồn thực tại sau đây về “di tích Nhà Vương Hồng Sển”.

Nơi ấy giờ đây “là khu tạm cư của vài chục nhân khẩu xa lạ đến xâm chiếm, xây cất bát nháo bên trong di tích để ở và kinh doanh; là một “ổ” tệ nạn xã hội, nhập cư trái phép (công an từng bắt tại địa chỉ 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh vụ mua bán 1,08kg heroin). Nơi ấy giờ đây đang bị các chủ nợ của một trong các cháu nội của cụ Vương chiếm dụng, các tủ cổ chứa sách quý và các đồ vật gia dụng cổ đã bị thất thoát” (trích đơn xin cứu xét khẩn thiết của bà Vương Việt Hoa – cháu gọi cụ Vương là bác ruột, gửi UBND TP ngày 9.1.2019).

Chính quyền và cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương có biết những hành vi vi phạm pháp luật đối với di tích đã được công nhận về pháp lý này không? Làm sao có thể tin là họ không biết? Và, đó chính là một câu chuyện buồn.

Cơ hội có thêm một nhà lưu niệm danh nhân đã bị bỏ qua!

Một câu chuyện buồn khác.

Năm nay là tròn 5 năm ngày mất và 99 năm ngày sinh của GS-TS. Trần Văn Khê - người mà cả cuộc đời đã chuyên chú tâm sức cho việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp và khắp mọi nơi trên thế giới. Các chuyên đề nghiên cứu và đào tạo của ông về đờn ca tài tử, về cải lương Việt Nam trong đối sánh với các loại hình âm nhạc, kịch nghệ của các quốc gia châu Á (pansori của Triều Tiên, kinh kịch của Trung Quốc, noh và kabuki của Nhật Bản) đã được giới âm nhạc quốc tế đánh giá rất cao. Sự đánh giá đó đã góp phần đưa đến công nhận và vinh danh ở tầm mức thế giới các loại hình nhã nhạc cung đình Huế, không gian cồng chiêng Tây nguyên, ca trù, đờn ca tài tử...

Sau khi trở thành người Việt Nam đầu tiên được nhận bằng tiến sĩ văn chương ngành nhạc học hạng tối ưu tại Đại học Sorbonne (Pháp) năm 1958 với bản luận văn âm nhạc truyền thống Việt Nam, suốt 50 năm sau đó, Trần Văn Khê đã tự nhận lấy trách nhiệm nghiên cứu và giới thiệu nền âm nhạc dân tộc Việt Nam mà ông cho là “rất hay, rất đẹp” với bạn bè trên thế giới và trao truyền cho các thế hệ người Việt.

Tài năng và tâm huyết của Giáo sư Trần Văn Khê đã đưa ông đến vị trí đòi hỏi uy tín cao mới có thể được đề cử: nhiều năm là thành viên rồi Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế âm nhạc của UNESCO và 10 năm liền được tín nhiệm ở vai trò Chủ tịch ban tuyển chọn quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á.

Trên cơ sở tâm nguyện của Giáo sư Trần Văn Khê “được sống và làm việc những năm cuối đời tại đất nước”, Sở Văn hóa - Thông tin TP đã khởi thảo Đề án Nhà Trần Văn Khê vào tháng 11.2003, đã lập một biên bản mang tính pháp lý giữa Giáo sư và Sở Văn hóa - Thông tin TP vào ngày 14.5.2004. Theo các căn cứ đó, nhà nước đã bố trí ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai để làm nơi sống và làm việc cho Giáo sư Trần Văn Khê những năm cuối đời, quản lý theo chế độ công sản.

Căn nhà số 32 đường Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh
là nơi cố Giáo sư Trần Văn Khê ở vào những ngày cuối đời.
Năm 2006, Giáo sư Trần Văn Khê đã chuyển về ở hẳn tại ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai và tại đây hàng loạt hoạt động văn hóa mà ông là linh hồn đã được tổ chức khiến cho ngôi nhà vượt ra khỏi cái tầm của một tư gia. 

Toàn bộ không gian đẹp nhất của ngôi nhà đã được bố trí làm nơi tiếp đón mọi người. Những nhân vật nổi tiếng trong và ngoài nước, những học trò cũ và mới, những bạn bè tri âm tri kỷ, những người dân bình thường đều đã đến đây giao lưu, đàm đạo với vị giáo sư nổi tiếng tài ba. Tại đây, đã diễn ra gần 100 buổi sinh hoạt về đàn tranh, đàn đá, hát bội, vọng cổ, ca trù, múa bóng rỗi, nghệ thuật ngâm thơ truyền thống Việt Nam...

Thư viện Trần Văn Khê đã được khánh thành ở tầng trên của nhà sau vào năm 2012 để phục vụ những ai cần nghiên cứu. Thư viện là kết quả kiểm định, phân loại từ 435 kiện sách và hiện vật âm nhạc quý (sổ ghi chép, đĩa và băng ghi âm, nhạc cụ các loại gắn liền với sự nghiệp âm nhạc của Trần Văn Khê) mà Giáo sư Trần Văn Khê chuyển từ Pháp về, trong đó có hơn 10.000 đầu sách, tạp chí liên quan đến nghiên cứu, giới thiệu âm nhạc thế giới và âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Những "báu vật" mà Giáo sư Trần Văn Khê gắn kết
cả đời và dành tâm huyết để nghiên cứu.
Ngôi nhà chứa đầy những hiện vật cả đời, những kỷ niệm ấm áp và sống động gắn với những năm tháng cuối đời Trần Văn Khê tại Việt Nam đã hiện ra dáng dấp mà nó cần có khi Đề án Nhà Trần Văn Khê được Sở Văn hóa - Thông tin TP phác thảo gần 10 năm về trước.

Thấy trò Trần Văn Khê và Nguyễn Thị Hải Phượng 
hòa tấu tại nhà 32 Huỳnh Đình Hai.

Ngôi nhà mà Giáo sư Trần Văn Khê mơ ước trong di nguyện của mình “Khi tôi vĩnh viễn ra đi, ngôi nhà này với tất cả hiện vật gắn với tôi sẽ được sử dụng để làm Nhà lưu niệm Trần Văn Khê, tất cả đều giao lại cho ban quản lý nhà lưu niệm giữ để phục vụ cộng đồng”.

Ngôi nhà ấy, đầy đủ điều kiện để trở thành một nhà lưu niệm danh nhân gắn với giá trị di sản âm nhạc dân tộc, kể từ sau ngày ông vĩnh viễn ra đi (2015) đã có những biểu hiện rõ rệt: không có cơ hội ấy nữa. 

Vì sao ư? Người viết bài này không thể trả lời. Chỉ có thể buồn thôi.

  • Nguyễn Thế Thanh

___________________________________________________________

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

Hồn tử sĩ - Hát Giang trường hận : Ai cũng nghe nhưng ít người biết.

  • Mai Lĩnh
Xưa nay, có một giai điệu nhạc buồn mà hầu như ai cũng từng nghe qua đài phát thanh, truyền hình hoặc nghe trực tiếp trong hội trường, hay ngoài nghĩa trang nhưng chẳng mấy ai để ý về xuất xứ nhạc phẩm ấy.

Đó là bài Hồn Tử Sĩ, một nhạc phẩm đã ra đời hơn 70 năm, được trình tấu hoặc phát thanh trong những lễ tang, truy điệu... Điều đặc biệt của nhạc phẩm này là cả hai chế độ đối kháng nhau lại cùng sử dụng suốt giai đoạn chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc (1954-1975). Hiện tại, bài hát này được nhà nước Việt Nam sử dụng trong các lễ tang chính thức. Người Việt ở hải ngoại, bài hát vẫn được sử dụng trong nhiều trường hợp có nghi lễ truy điệu.

Nguyên thủy, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921-1989) viết ca khúc có tên là Hát Giang Trường Hận, trong một kỳ trại do Tổng hội Sinh viên Đông Dương tổ chức tại Mê Linh, vào khoảng năm 1942-1943. Đến năm 1946, Lưu Hữu Phước cùng với một đồng nghiệp là Hồng Lực đã sửa phần lời và đổi tên bài hát "Hát Giang Trường Hận" thành "Hồn Tử Sĩ" để tưởng nhớ và chiêu hồn các chiến sĩ hy sinh trong thời kỳ chống Pháp.

Theo thiển ý của người viết, ngoài giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có một nguyên nhân khiến nhạc phẩm này được phổ biến và sử dụng rộng rãi, liên tục trong thời gian dài hơn bất kỳ tác phẩm âm nhạc nào khác của Việt Nam, có lẽ do hơn bảy thập kỷ qua nó chỉ được trình tấu chứ không được hát lời ca, nhất là vào những thời gian 1954-1975 ở miền Bắc và sau 1975 đến nay trên toàn quốc Việt Nam. Đó cũng là lý do khiến rất nhiều người từng nghe, từng xúc động với giai điệu trầm hùng của “Hồn Tử Sĩ”, nhưng rất ít người biết đến lời ca, càng hiếm hoi người biết đến nguyên bản ca khúc Hát Giang Trường Hận.

Nói vậy, chẳng lẽ nếu mọi người biết - và thuộc - lời ca khúc này thì nó sẽ không được dùng phổ biến vậy sao? Đây chỉ là suy diễn của tôi, một thiển ý xuất phát từ thực tiễn là gần nửa thế kỷ nay, lịch sử Việt Nam thường được “tô đậm”, nhấn mạnh các diễn biến lịch sử đất nước giai đoạn từ sau thập kỷ 20 của thế kỷ XX đến nay. Lịch sử trước đó chỉ được nhắc đến một cách sơ sài, phiến diện. Vì thế, từ một ca khúc vinh danh lòng yêu nước và công lao chống ngoại xâm của nhị vị nữ anh hùng và nhân dân thời trước là khó được chấp nhận và tác giả phải sửa lại lời ca; và ngay cả khi sửa "Hát Giang Trường Hận" thành "Hồn Tử Sĩ" rồi cũng thật khó được chấp nhận được cất tiếng hát lên ở những sự kiện như lễ tang chính thức của nhà nước hiện nay.

Điều này lâu nay ít người để ý, mặc dù trên Youtube, từ lâu đã có thể nghe NSND Trần Khánh cùng dàn hợp xướng của đài Tiếng Nói Việt Nam hoặc đơn ca của NSND Quang Thọ (Nhà hát Ca Múa Nhạc VN). Tại các lễ tang cấp nhà nước, người ta thường phát bài Hồn Tử Sĩ do Dàn Nhạc kèn của Đoàn Nghi lễ quân đội hòa tấu.

Có tài liệu ghi tên tác giả phần lời bài “Hồn Tử Sĩ” là Hoàng Mai Lưu. Nhưng thông tin này không chính xác. Hoàng Mai Lưu là bút danh chung của nhóm bạn Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, và Lưu Hữu Phước. Sự kết hợp nhóm bạn này xảy ra sau khi đã có Hồn Tử Sĩ, sáng tác của Lưu Hữu Phước và Hồng Lực tham gia phần lời như đã nói ở trên. Xin đọc thêm thông tin về nhóm Hoàng Mai Lưu tại http://phatgiaobaclieu.com/hoang-mai-luu-va-ca-khuc-giai-phong-mien-nam-ts-tran-thuan/ 

Nhạc của Lưu Hữu Phước nhưng lời của Phan Mai, bạn có thể lắng nghe giọng hát Thái Thanh thể hiện "Hồn Tử Sĩ".

Còn có một nhạc phẩm với nội dung tương tự,  ít được biết tới là bài “Chiêu Hồn Tử Sĩ” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, sau đó lại được đặt tên lại là “Mặc Niệm Đồng Chí”.

Các bạn có thể đọc và so sánh lời các bài "Hát Giang Trường Hận" và "Hồn Tử Sĩ" tại https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93n_t%E1%BB%AD_s%C4%A9#B%C3%A0i_h%C3%A1t_chung_c%E1%BB%A7a_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Vi%E1%BB%87t_Nam và dị bản khác tại https://loibaihat.biz/lyric/petsj/hontusi/
_______________________________________________

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

Đôi điều về quyển TỪ ĐIỂN THÀNH PHỐ SÀI GÒN-HỒ CHÍ MINH




  • Mai Lĩnh 

Đây là bộ từ điển địa phương đầu tiên về thành phố có quá hình hình thành và phát triển hơn 300 năm; thành phố có số cư dân đông nhất nước và là một trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế... quan trọng của cả nước, đứng thứ hai sau thủ đô Hà Nội. Công trình được hoàn thành sau gần 5 năm biên soạn và chỉnh lý của nhóm tác giả gồm 2 vị chủ biên (Thạch Phương - Lê Trung Hoa), 18 cộng tác viên và được khảo duyệt, tiếp sức bởi một hội đồng gồm các học giả, nhà nghiên cứu có uy tín. Nhà xuất bản Trẻ, thành phố HCM phát hành lần đầu vào tháng 3/2001.

Chúng tôi xin bày tỏ sự ngưỡng mộ, khâm phục đối với công trình sưu tầm, biên soạn rất có giá trị này. Cũng với tình cảm đó, chúng tôi xin mạo muội nêu ra vài điểm, đề nghị các nhà biên soạn Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh (dưới đây sẽ gọi tắt là Từ Điển) xem xét, hiệu chỉnh, bổ sung cho lần xuất bản sau.

- Phần BÁO CHÍ - XUẤT BẢN:
1.  Trang 850 có chép rằng Phan Yên báo là nguyệt san ra đời tháng 12-1868 và là tờ báo thứ hai viết bằng chữ quốc ngữ ở Gia Định. Nhưng tại trang 1028, mục “Tờ báo đầu tiên bị cấm ở Saigon” lại cho là báo này ra số đầu tiên vào tháng 12-1898, sau tờ Thông Loại Khóa Trình của Trương Vĩnh Ký (ra số đầu tháng 5-1888). Tuy nhiên, ở mục này cũng cho rằng Phan Yên báotờ báo quốc ngữ thứ hai.
Sự sai biệt con số năm xuất bản tờ Phan Yên báo (1868 và 1898) nêu trên chắc chắn không phải là một lỗi do sắp chữ vì theo đó còn một số chi tiết mâu thuẫn cần chú ý sau:
*    Nếu Phan Yên báotờ báo quốc ngữ thứ hai ở Gia Định (cũng là của nước ta) thì nó phải ra đời năm 1868, chỉ sau tờ Gia Định báo (1865). Và như vậy đó chính là tờ báo tư nhân đầu tiên ở Việt Nam (do Diệp Văn Cương chủ trương) xuất bản trước tờ Thông Loại Khóa Trình 20 năm.
*    Trái lại, nếu Phan Yên báo ra đời năm 1898 - sau tờ Thông Loại Khóa Trình 10 năm - thì nó không thể là tờ báo quốc ngữ thứ hai xuất bản tại Gia Định được. Đơn giản là vì Thông Loại Khóa Trình cũng là báo dùng quốc ngữ, được in và phát hành tại Gia Định.
Được biết, hiện trong nước không còn bản lưu nào của tờ Phan Yên báo, nhưng các công trình nghiên cứu [1] về lịch sử báo chí nước ta trước đây đều ghi nhận báo này ra số đầu tiên vào tháng 12-1868 - là tờ báo quốc ngữ thứ hai của Việt Nam.


2.    Mục từ: Lành Mạnh (trang 843) - Tập san Lành Mạnh (xuất bản vào ngày mồng Một mỗi tháng) ra mắt số đầu tiên ngày 01-10-1956, không phải vào năm 1958 như Từ điển viết. Đến ngày 01-8-1963 ra số 83. Trong suốt thời gian ấy (83 tháng), tòa soạn và trị sự đặt tại : 32 đường Lê Lợi, Huế và báo in tại nhà in Sao Mai - 76 đường Nguyễn Huệ, Huế. Chủ nhiệm tập san này là Bác sĩ Lê Khắc Quyến, bấy giờ là Giám đốc Bệnh viện Huế. Vì vậy Lành Mạnh là tờ báo được xuất bản tại Huế chứ không phải tại Saigon; thiết nghĩ không nên đưa vào Từ điển này.
3.  Mục từ: Chính Luận (trang 827) - Từ điển chép ngày đình bản báo này là 30-3-1974. Chúng tôi không rõ báo Chính Luận ra số cuối cùng vào ngày nào, là số mấy; nhưng chắc chắn chi tiết nói trên không chính xác. Hiện nay chúng tôi còn giữ một bản số báo Chính Luận ra ngày thứ Sáu, 09-8-1974.
- Phần NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG NHỚ, mục Bức ảnh được trao giải quốc tế Pulitzer (trang 1029) nói về bức ảnh được trao giải ảnh báo chí Pulitzer năm 1969, được chụp trên đường phố Saigon trong bối cảnh cuộc Tổng công kích và nổi dậy xuân Mậu Thân (1968); trong ảnh là Tổng giám đốc Cảnh sát Saigon - Nguyễn Ngọc Loan - đang chỉa súng ngắn bắn vào đầu một người bị trói chặt hai tay ra sau. Từ điển nói rằng tác giả bức ảnh đó là một phóng viên của báo Sunday Times.
Xin đính chính như sau: Tác giả bức ảnh đó là EDDIE ADAMS. Lúc chụp bức ảnh nói trên, anh ta đang làm phóng viên ảnh chính thức cho hãng Associated Press (AP) theo một hợp đồng từ 1962 đến 1972. Sau đó Adams trở thành một phóng viên tự do (freelance) với một hợp đồng cung cấp ảnh cho tạp chí Time.
 - Phần NHÂN VẬT: Có nhiều điểm cần sửa lại (không kể lỗi mo-rát) hoặc viết lại cho rõ ràng, chính xác. Ở đây chỉ nêu vài trường hợp:
1/ Mục từ: Lê Liễu Huê (trang 168). Từ trước đến nay, tỉnh Quảng Trị không hề có huyện Thạch Hãn. Chỉ có làng Thạch Hãn (thuộc thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị) và dòng sông Thạch Hãn.
2/ Mục từ: Lê Ngọc Trụ (trang 169). Cây Gõ là tên gọi một vùng thuộc quận 6 (phường 6 và 9), khu vực giáp quận 11; không liên quan đến quận 5 như trong Từ điển ghi.
3/ Mục từ: Mai Văn Bộ (trang 180). Huyện Thốt Nốt hiện nay thuộc tỉnh Cần Thơ, không thuộc tỉnh An Giang như trong Từ điển viết.
4/ Mục từ: Nguyễn Tường Tam (trang 213). Từ điển viết: “...làm Trưởng đoàn đàm phán với Pháp tại Hội nghị Đà Lạt và Fontainbleau. Sau đó, bỏ công tác chạy sang Trung Quốc”.
Xin nói rõ như sau: Tại Hội nghị trù bị Việt Pháp tại Dalat ngày 19/4/1946, phái đoàn Việt Nam do Nguyễn Tường Tam làm Trưởng đoàn, Võ Nguyên Giáp làm Phó đoàn. Về Hội nghị Fontainbleau : theo danh sách ngày 28-5-1946, Nguyễn Tường Tam được cử làm Trưởng đoàn, nhưng ngày 30-5-1946, có quyết định thay đổi và Phạm Văn Đồng đã thực hiện nhiệm vụ Trưởng phái đoàn Việt Nam tại hội nghị nói trên.
Vậy không thể viết như đoạn trích dẫn nêu trên; tuy ngắn, gọn, nhưng làm người đọc hiểu sai sự thật lịch sử.
5/ Hai mục từ: Ngô Tùng Châu (trang 183) và Võ Tánh (trang 267).
Năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Ánh chiếm thành Quy Nhơn, đổi thành trấn Bình Định. Đến năm Tân Dậu (1801), bị quân Tây Sơn vây ngặt lâu ngày, quân lương đã cạn kiệt, không đủ sức chống giữ, quan Trấn thủ Võ Tánh và Hiệp trấn Ngô Tùng Châu cùng tuẫn tiết.
Về Ngô Tùng Châu, Từ điển ghi: “Năm 1799, làm Hiệp trấn Bình Thạnh cùng với trấn thủ Võ Tánh giữ thành”. Cần sửa lại là ...Hiệp trấn Bình Định. Có ý kiến cho rằng sách viết là Bình Thành, nhưng in sai. Dù viết như vậy cũng không chuẩn, vì hai ông Võ Tánh và Ngô Tùng Châu đóng binh trong thành Bình Định nhưng trấn thủ lãnh thổ Trấn Bình Định chứ không chỉ riêng khu vực thành Bình Định. 
Về Võ Tánh, Từ điển lại viết: “...trấn thủ thành Qui Nhơn...”, cần sửa lại là thành Bình Định.
6/ Mục từ: Võ Trường Toản (trang 269). Từ điển viết “Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Phan Thanh Giản cùng Nguyễn Thông và nhiều môn sinh yêu nước đứng ra lo việc cải táng mộ người thầy học đáng kính về làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre với ý tưởng không để mộ thầy nằm trong vùng giặc chiếm lúc bấy giờ”.
Đọc đoạn văn liền một câu như trên, nhiều người sẽ lầm tưởng Phan Thanh Giản (1796-1867) và Nguyễn Thông (1827-1884) cũng là học trò của Võ Trường Toản (mất năm 1792). Viết ngắn gọn kiểu này quả là rất nguy hiểm.
Theo Lời Giới Thiệu thì Từ điển thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh là loại từ điển phổ thông, lấy đối tượng phổ biến là lớp trẻ, học sinh sinh viên. Chính vì vậy, thiết nghĩ cần có cách viết - dù ngắn gọn - nhưng phải khúc chiết, đủ nghĩa, tránh sự hiểu nhầm cho người tra cứu thuộc tầng lớp phổ thông …


[1] Huỳnh văn Tòng (Lịch sử Báo chí Việt Nam), Nguyễn Ngu Í (Bách Khoa), Nguyễn Ang Ca (Phổ Thông bán nguyệt san).....

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Hoàng Thị ngày xưa, từ thơ đến nhạc


Ca khúc “Ngày xưa Hoàng Thị” được
in rời với tranh màu nước của ViVi

Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của thi sĩ Phạm Thiên Thư được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát cùng nhan đề vào năm 1971, được nhiều ca sĩ lần lượt thể hiện, tạo sức lan toả sâu rộng. Cũng từ đó, đề cập đến nữ nhân vật trong tác phẩm Ngày xưa Hoàng Thị, vì lắm lý do, có những ngộ nhận đã xảy ra khá nực cười.

Phạm Thiên Thư có họ tên Phạm Kim Long, chào đời năm Canh Thìn 1940 tại Hải Phòng trong một gia đình Đông y mà cha gốc Thái Bình, mẹ gốc Bắc Ninh. Giai đoạn 1943 – 1951, Phạm Thiên Thư sống ở Hải Dương, rồi theo gia đình vào Nam, cư ngụ tại Sài Gòn từ năm 1954. Lớp đệ tam (tương đương lớp 10 hiện thời), Phạm Thiên Thư học trường Trung học tư thục Văn Lang ở khu Tân Định, quận 1, chung lớp với một nữ sinh gốc Hải Dương là Hoàng Thị Ngọ tuổi Nhâm Ngọ 1942.

Phạm Thiên Thư kể: "Hoàng Thị Ngọ dáng người thanh mảnh, tóc thả ngang vai. Xếp hàng vào lớp, nàng đứng đầu hàng nữ, tôi đứng cuối hàng nam. Vào lớp, nàng ngồi bàn đầu, tôi ngồi bàn cuối. Ngọ học giỏi, còn tôi thì giỏi… đánh lộn. Thế mà tôi yêu nàng. Yêu đơn phương. Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân. Nhà Ngọ ở đường Trần Quang Khải. Mỗi lần tan trường, nàng ôm cặp đi bộ về nhà, tôi cứ lẽo đẽo theo sau".

Phạm Thiên Thư thi đỗ tú tài bán phần rồi trở thành sinh viên phân khoa Phật học thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1964, Phạm Thiên Thư trở thành tu sĩ Phật giáo với pháp hiệu Thích Tuệ
 Không, trải qua các chùa Kỳ Quang, Từ Vân, Vạn Thọ. Mặc dầu ăn chay và khoác nâu sồng, những mỗi lần đi về khu Tân Định, Phạm Thiên Thư lại bâng khuâng luyến nhớ mối tình đơn phương thuở học trò. Xúc cảm, Phạm Thiên Thư sáng tác bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị, âu yếm gọi rõ tên nàng trong khung cảnh mây đỏ, cây đỏ, hoa đỏ, bụi đỏ:
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
(…)

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng dáng đỏ

Phần đầu bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” trong thi tập
“Ngày xưa người tình” của Phạm Thiên Thư 
(NXB Văn Chương, Sài Gòn, 1974)
Phạm Thiên Thư cho biết: "Năm 1968, tôi ấn hành cuốn sách đầu tay Thơ Phạm Thiên Thư (6) với số lượng ít ỏi, chỉ 500 bản. Lúc đó, tôi là tu sĩ, ngại bất tiện nên chỉ in bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị theo dạng trích. Đến năm 1971, gặp nhạc sĩ Phạm Duy, tôi trao trọn vẹn bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị. Ít lâu sau, Phạm Duy phổ bài thơ này thành bài hát. Năm 1974, tôi in đầy đủ bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị trong thi tập Ngày xưa người tình".

Phạm Duy viết trong hồi ký Nhớ (NXB Trẻ, 2005): “Sự gặp gỡ của tôi với Phạm Thiên Thư – mà thi sĩ gọi là của một ngọn núi với một đám mây – là do hai chúng tôi vô tình cùng đi thăm một người quen đang nằm trong một bệnh viện. Gặp Phạm Thiên Thư ở đó, tôi yêu mến anh ngay. Sau đó, thi sĩ luôn luôn tới nhà tôi đàm đạo. Lúc bấy giờ, tôi đang soạn những bài ca cho tình yêu và tuổi học trò như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi... Đọc được bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị mà anh bạn trao cho, tôi như bắt được viên ngọc quý và xin phổ nhạc ngay.”

Trong “nhạc tập 2” Đưa em tìm động hoa vàng (NXB Trẻ, 2006), trước ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị, Phạm Duy ghi: “Sài Gòn 1971. Tôi gặp Phạm Thiên Thư vào lúc tôi đang soạn những bài ca cho tình yêu và tuổi học trò như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi. Tôi được vị tu sĩ vừa cởi áo nâu sồng đưa cho một bài thơ cũng nằm trong đề tài này để phổ nhạc, chỉ khác có một điểm là cô bé trong bài thơ không mang những cái tên diễm lệ như Tuyết Nhung hay Dạ Thảo, mà mang một cái tên rất bình dị là Ngọ, Hoàng Thị Ngọ. Tôi dùng một âm giai ngũ cung và một thể nhạc kể truyện để đưa ra tình khúc rất bụi đỏ đường mơ này”.

Phần đầu ca khúc “Ngày xưa Hoàng Thị” do Phạm Duy
phổ thơ Phạm Thiên Thư với chữ viết của nhạc sĩ
trong tập “Con đường tình chúng ta đi”
(NXB Gìn Vàng Giữ Ngọc, Sài Gòn, 1974)

Ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị được Phạm Duy soạn nhịp ¾, tiết tấu valse , âm giai chủ chuyển từ si giáng trưởng sang đô trưởng, tôn vinh kỷ niệm tình yêu học trò tương ứng mạch thơ của Phạm Thiên Thư. Thế nhưng, khi trở thành ca từ trong bài hát cùng nhan đề, lời thơ Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư đã được Phạm Duy linh hoạt chuyển biến khá nhiều về từ ngữ và bố cục.


Với ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị, thoạt tiên, Phạm Duy ghi: “Allegro” E rằng thuật ngữ tiếng Ý kia chưa diễn tả đủ sắc thái cần thiết, nên nhạc sĩ chua nghĩa: “Nhanh mà buồn”. Sau này, nhạc sĩ chỉnh lý: “Kể chuyện”.

Giữa năm 1971, nhạc phẩm Ngày xưa Hoàng Thị liền được in rời với bức ảnh Rừng thu của nhiếp ảnh gia Nguyễn Xuân Tính, rồi tái bản ngay với tranh màu nước tươi trẻ sinh động của hoạ sĩ ViVi . Năm 1974, Phạm Duy ấn hành tập nhạc Con đường tình chúng ta đi (NXB Gìn Vàng Giữ Ngọc) gồm 16 ca khúc, trong đó có Ngày xưa Hoàng Thị.

Cũng từ năm 1971, qua làn sóng phát thanh và truyền hình, đồng thời qua băng từ, ca sĩ Thái Thanh ngân vang Ngày xưa Hoàng Thị. Sau đó, trên các nền hoà âm phối khí khác nhau, Ngày xưa Hoàng Thị được lần lượt thể hiện bởi bao chất giọng: Thái Hiền, Julie Quang, Thanh Lan, Sơn Ca, Hoạ Mi, Hương Lan, Ý Lan, Quang Linh, Khánh Linh, Đức Tuấn, Quốc Đại, Nguyễn Hoàng Nam, Thái Hạnh Quyên, Thu Hiền, Thu Thuỷ, Mai Hương, Quỳnh Hương, Đoan Trang, Phương Vy, Kim Ánh, Thuỳ Dung, Mỹ Huyền, Thanh Ngọc, Thanh Thuý, Thanh Hằng, Thanh Hà ...

Nguồn: Facebook 
Ly Le (Los Angeles, California, Hoa Kỳ

Mời nhấn chuột vào hình để thưởng thức ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị do Thái Thanh trình bày.

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

Nhạc Sĩ Lê Thương & 70 Năm Hòn Vọng Phu



  • Đặng Phú Phong


Nhạc sĩ Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914 tại Yên Viên, Hàm Long, Hà Nội.
Ông mồ côi mẹ từ năm chín tuổi, cha tục huyền, bốn anh em gồm ba trai một gái, được bà nội đem về nuôi. Bà nội là Trùm một họ đạo Thiên Chúa ở khu phố Hàm Long thời ấy nên Lê Thương được bà dưỡng dục trong môi trường đạo giáo. Kiến thức âm nhạc do năng khiếu bẩm sinh và hấp thụ trong môi trường nhà Dòng, chứ không được học ở một trường lớp nhạc lý nào khác. Khi tu ở nhà Dòng ông có tên là Bénilde (theo nhà thơ Huy Trâm), tu được một thời gian rồi hoàn tục, trở về dạy học năm 1935.

Bút danh Lê Thương do ông ghép họ mẹ với tên con sông Thương, dòng sông của kỷ niệm tuổi thơ trong những dịp nghỉ hè với gia đình một người bạn học ở một đồn điền tại Đồng Đăng, nơi có tượng đá Tô Thị vọng phu. Hình tượng và huyền thoại Tô Thị đã in vào lòng ông, để sau này thành một trong những tố chất làm nên trường ca Hòn Vọng Phu bất tử.

Thời 1937, khi thuyên chuyển về dạy học ở Hải Phòng, ông đã cùng với Văn Cao, Hoàng Quý, Hoàng Phú, Phạm Ngữ, Canh Thân... cùng với một số ca sĩ thời bấy giờ thành lập nhóm Đồng Vọng để sáng tác và hát phụ diễn cho ban kịch của Thế Lữ tại Hải Phòng.

Năm 1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ra Hải Phòng diễn thuyết, Lê Thương đến dự và do thính giả yêu cầu, ông có trình bày một bản tân nhạc. Theo cách phân chia của Lê Thương trong bài viết “Nhạc Tiền Chiến- Lời thuật của Lê Thương” thì nền Âm Nhạc Mới (Tân Nhạc) của Việt Nam bắt đầu vào thời điểm này: “Năm xuất hiện chánh thức của phong trào Âm Nhạc Mới là tháng 3 năm 1938, khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Saigon ra hô hào (cho âm nhạc cải cách) tại đất Bắc... Từ đầu 1939, một số bài nhạc của vài nhóm đã thấy treo bán tại các hiệu sách.” (nguồn: khanhly.net/phoxua)

Năm 1941 Lê Thương vào Nam dạy học ở tỉnh Kiến Hòa và Sài Gòn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp đánh Sài Gòn, ông chạy xuống Mỹ Tho, theo kháng chiến ở các vùng quê. Đây là lúc Lê Thương soạn một truyện ca kháng chiến nổi tiếng: “Lòng Mẹ Việt Nam” hay “Bà Tư Bán Hàng,” và phổ nhạc nhiều bài thơ, đặt lời cho một số bản nhạc ngoại quốc.

Khi rời bỏ vùng kháng chiến, ông từng ngồi tù tại Mỹ Tho cuối năm 1946. Cuối 1947 ông được thả và trở về Sài Gòn, thêm một lần bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm Duy và Trần Văn Trạch năm 1951.

Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc, từ những truyện ca, nhạc hài hước, tới những bài hát thiếu nhi. Thời VNCH ông cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non trên đài phát thanh Saigon, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội: Bóng trăng trắng ngà / Có cây đa to / Có thằng Cuội già / Ôm một mối mơ... Ông cũng là tác giả bài Học Sinh Hành Khúc, rất phổ thông tại các trường học: Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau...

Bên cạnh công việc sáng tác, ông dạy sử địa tại một số trường trung học, dạy nhạc sử tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Và Kịch Nghệ Sài Gòn. Từng là một kịch sĩ trong ban kịch của Thế Lữ từ 1930, ông cũng gia nhập ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân. Ông còn tham gia đóng phim Đất Khổ, phim của đạo diễn Hà Thúc Cần dựng theo tác phẩm “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca.

Nhạc sĩ Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về. Ông bà có 9 người con. Ông mất vào ngày 17-9-1996 tại Saigon, thọ 82 tuổi.

  • Hòn Vọng Phu, tác phẩm để đời

Trong sự nghiệp sáng tác của Lê Thương, vượt trên tất cả là ba bài Hòn Vọng Phu. Đây là bản trường ca trường ca đầu tiên của âm nhạc Việt Nam, khởi viết từ 1942, hoàn tất năm 1947.

Ngôn ngữ trong Hòn Vọng Phu được thăng hoa đầy tính thẩm mỹ. Lời hát quyện chặt với hồn nhạc ngũ cung Việt Nam. Hơn 70 năm sau, sức sống của trường ca bất từ này vẫn vượt qua mọi giới hạn của thời thế và tiếp tục âm vang.
Sau đây là những ghi nhận về quá trình sáng tạo tác phẩm âm nhạc để đời này.

Hòn Vọng Phu 1- Đoàn Người Ra Đi

Đoàn Người Ra Đi
 Trên đường vào Nam, Lê Thương đi ngang Phú Yên và bị thu hút bởi tượng Vọng phu cùng quang cảnh non nước “mê hoặc” ở vùng này, từ đây “Lệnh vua hành quân trống vang dồn…” ra đời. Có thể nói hình ảnh tượng đá Vọng Phu ở Phú Yên đã ảnh hưởng mạnh nhất tới cảm xúc của Lê Thương. Ông giải thích: “Núi Vọng phu ở Phú Yên tại một vùng địa lý hơi man rợ, thâm u là đá đẹp nhất, xem từ biển nhìn vào làm cho tôi cảm mến. … Nhớ lại năm 1470 đầu niên hiệu Hồng Đức tại vùng này có "thạch bi sơn" làm biên giới Việt Nam và Chiêm Thành còn sót lại... Cảnh trí đường đèo quanh co, cây cỏ um tùm man rợ làm cho dân gian ghi tạc mấy câu vè siêu thực đầy tính bí hiểm: “Mưa Đồng Cộ, Gió Tu Hoa, Cọp Ổ Gà, Ma Hòn Lớn”.

Lời sơ giải của dân gian kể là: “Trên một cao nguyên nhỏ vùng đèo, thường có mây dày đặc chỉ cần gọi nhau trên đó là mưa rớt xuống (còn nhiều di tích dân cổ Chiêm Thành trên đó).

Đường lên ngọn cao nơi đó, sườn núi bị soi mòn, gió biển thổi qua các khúc quanh co, nghe như tiếng hú âm u. Đó là Mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa…

“Còn Hòn Lớn thì nghe như một cái đảo âm u ngang vùng Phan Rang gì đó, có rất nhiều “ma hồi” đêm cứ lập lòe nhát các ngư phủ ghé thuyền tránh gió đến đó qua đêm!

Quang cảnh hú vía của thiên nhiên, trộn vào ảnh cảm địa lịch qua từng bước đường nam tiến vẫn ám ảnh tâm hồn tôi, một cậu trai giàu tưởng tượng để lúc sống bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre thân mến) phải thể hiện thành bài Hòn Vọng Phu 1.

Đó là những hình ảnh tác động trực tiếp đến ông, và phần sâu xa nhất trong tâm thức ông là tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn/ bản dịch Đoàn thị Điểm. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Lê Phương Chi, nhạc sĩ đã xác nhận điều này: “...xin thú thật là tôi còn chịu ảnh hưởng sâu xa trong Chinh Phụ Ngâm, cụ thể là:

Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt. Thì trong Hòn Vọng Phu I tôi biến thành: “Lệnh vua, hành quân, trống kêu dồn...” / Tới Man Khê bàn sự Phục Ba ..., tôi biến nó thành: “Bến Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng/Bến Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng ...”

Có thể nói, những câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm đã in sâu vào tiềm thức những ngày tôi còn học ở nhà trường. Rồi với những ấn tượng thắng tích đá Vọng Phu qua truyền thuyết thiếu phụ ôm con mòn mỏi trông chồng đến nỗi hóa đá, đã hằn sâu trong tâm tư tôi, nay gặp ngoại cảnh núi sông hùng vĩ hiện ra trước mắt, đó là môi trường thuận lợi tác thành những giai điệu trong nhạc phẩm Hòn Vọng Phu 1.”

Vậy là Hòn Vọng Phu 1 được ra đời năm 1943 tại Bến Tre, nơi ông dạy học. Ở Hòn Vọng Phu 1 có 4 câu sau đây mà tôi đồ rằng đó chính là cái “Key” để dẫn dắt hành trình tâm lý cho cả bài trường ca: “Chiêng trống khua trăm hồi,/ ngần ngại trên núi đồi,/ rồi dậy vang khắp nơi / thắm bao niềm chia phôi…”

Cuộc xuất binh đầy thanh thế, trống đánh chiêng khua, cờ bay phất phới, nhưng, trước khi âm thanh ấy bừng bừng vang dội khắp nơi thì nó lại có một khoảng thời gian “ngần ngại” như một dấu lặng. Lê Thương đã hết sức tinh tế, khi tả cái tình huống vừa hùng tráng của phút ra quân, vừa là nỗi lòng trước cảnh chia ly không hẹn ngày trở lại. “thắm bao niềm chia phôi” của kẻ chinh phu và người chinh phụ. Bài hát là một hành khúc hùng tráng được viết ở cung Re thứ. Từng cụm âm thanh xô đẩy nhau diễn tả khí thế xuất binh… đến phần kết thúc bằng 2 câu: “Người tung hoành bên núi xa xăm, Người mong chồng còn đứng muôn năm” thì nhạc chậm lại và dứt bằng nốt chủ âm vang vọng.

Hòn Vọng Phu II - Ai Xuôi Vạn Lý

Ảnh bìa nhạc do Tinh Hoa xuất bản. (Hương Nam xuất bản lần đầu vào tháng 10 năm 1946)

Trong thư viết gửi bác sĩ Phương Hương , nhạc sĩ Lê Thương cho biết: “Bài Ai Xuôi Vạn Lý (Hòn Vọng Phu 2) là cuối năm 1945 sang 46, tôi theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho đi từ Cai Lậy, thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim qua sông, đi với các em phần đông là học sinh Petrus Ký mà tôi là trưởng đoàn Ca Nhạc với những bài thanh niên lịch sử và riêng Hòn Vọng Phu 1 nghêu ngao qua các làng dừa từ Thành Triệu, An Khánh, Phú An Hòa, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hòa, cho đến Dòng Sầm, gần Bình Đại...
Bỗng Tây đem tàu tấn công 3 Cù Lao, Minh, Bảo, An Hóa. Tiếng Canon 75 bắn tủa vào các bờ sông có dừa, máy bay phun lửa “spitfire” từ trời bắn xuống. Đoàn phải tan rã các em trong đoàn chạy hầu hết về gia đình, chỉ còn tôi và người bạn Ánh (nay đã chết) trốn được vào vùng lá Dòng Sầm cách Bình Đại 4 cây số.

Chúng tôi được vài gia đình người Cao Đài làm đầu tộc đạo nơi đó thương xót giấu trong bìa lá và giúp lương thực sống trong sự khủng khiếp hằng ngày vì tên Pháp lai Leroy và bọn lính Partisans đầu đỏ xục xạo làng xóm gieo khủng khiếp. Lúc đầu chúng tôi còn trốn vào sâu trong ruộng, đem gạo cơm đi ăn tối về nằm trong kho lúa. Sau vì còn thấy nguy hiểm nên anh Tư - bà con với ông đầu tộc đạo dẫn chúng tôi vào bìa lá dòng Sầm dày 4,5 trăm thước sát cửa biển Bình Đại.
Từ trái sang phải: Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương năm 1949.

Tại nơi yên tĩnh này chúng tôi được sống bên bờ rạch dày đặt lá dừa nước! May mà còn chiếc mùng “Tuyn”(tulle) để tránh muỗi, đêm đêm nghe dế than, cá thòi lòi đập đuôi lạch bạch dưới sình và tâm hồn lo âu vô vọng. Tôi hay nghĩ đến sự chết thê thảm cô đơn và lẩn vẩn trong trí óc sự tiếc nuối mênh man như lòng người chinh phụ trong giang san Đèo Cả.

“Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly.”

Nhờ cây viết máy Kaolo khô mực và nước rạch nhỏ vào cho ướt lại, tôi viết mấy ô nhịp trên.

Tâm hồn rạo rực trong mỗi buổi chiều tà làm bốc lên những tiếng mới của bài Hòn Vọng Phu 2, tức Ai xuôi vạn lý, được ghi vội vã lộn xộn nhưng cuồng nhiệt như tâm hồn tôi ghì lấy sự sống.”

Qua lời tỏ bày của Lê Thương, chúng ta thấy được nhờ sự gian nan, thiếu thốn mà ông bật lên những cung nhạc tài hoa trong Hòn Vọng Phu 2. Những lần chạy trốn hiểm nguy, cái chết cận kề, cái chết luôn lảng vảng trước mặt, bằng sự cảm nhận thiết tha với sự sống, ông đem hòa nhập những điều này vào nỗi lòng chinh phụ.

Phần đầu, expressivo, ông ông dành cho người hát diễn tả tự cảm xúc. Chính vì vậy 2 câu: “Khi tướng quân qua đồi, kéo quân, quân theo cờ, Đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ, cho đến bây giờ đã thành / đoàn cổ thụ già” nhờ một dấu nghỉ giữa 2 chữ “thành” và “đoàn” làm ta cảm nhận được cái dài đằng đẵng của thời gian. Từ lúc xuất chinh, cỏ cây chỉ là thơ trẻ mà giờ đây đã trở thành một khu rừng cổ thụ!
Bài Vọng Phu 2 là bài đặt biệt nhất trong 3 bài. Đặc biệt vì 2 bài kia chỉ thuần là kể chuyện; riêng bài này Lê Thương, trong lúc xuất thần ông thấy mình đang là chứng nhân của cảnh người vọng phu cương quyết trơ gan cùng phong nguyệt, đứng lặng nhìn về phía trời xa, một dạ đợi chồng. Ông không còn đóng vai kể chuyện nữa mà nhập vào câu chuyện trong cổ tích để nói lên nỗi lòng thương cảm của mình với nàng chinh phụ. “Có ai xuôi vạn lý nhắn đôi câu giúp nàng, Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng. Thôi đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly…”

Sự thương cảm đã được đẩy lên cao độ, ông quý yêu nàng, khâm phục nàng bằng tất cả tấm lòng nên tôn xưng nàng là “Bà”. Chữ bà được trịnh trọng viết hoa trong bản nhạc. Bà là danh xưng tôn quý dành cho những người phụ nữ có công đức, tài ba giúp đỡ dân lành. Được thờ tự trong am miếu.

Một chi tiết mà có lẽ ít người để ý là “Trời chuyển mưa trong tiết tháng ba, Suốt năm nước nguồn tuôn đổ xuống "Bà", hình hài người bế con nước chảy chan hòa”. Dân gian có câu “Tháng Ba bà già đi biển” ý nói thời tiết vào tháng Ba ở vùng biển rất là tốt, biển êm sóng lặng, không hề có mưa giông gió bão. Thế nhưng lòng son sắt của người đàn bà chờ chồng kia đã động đến thiên đình, dù theo thông lệ không cho mưa vào tháng ba, trời làm mưa như thác đổ, để giúp nàng quên đi cái nắng đổ lửa, cái gió cát xốn xang lòng mắt. Và cũng để “Thấm vào đến tận tâm hồn đứa con”.

Nhìn tượng vọng phu trên dãy Trường Sơn, ông lãng mạn giải thích, núi non thương tình nên kéo nhau đến kính cẩn quì trước mặt nàng tung hô tình yêu bất diệt, và, từ đấy, núi non không đi nữa cùng ở lại với nàng, trở thành dãy Trường sơn của nước Việt. “Nên núi non thương tình, kéo nhau đi thăm nàng Nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam.

Nhiều đồi núi khác cũng động lòng "rủ nhau kéo thành đảo xa, ra tới tận khơi ngàn... Xem chàng về hay chưa?”

Cũng vậy, sức liên tưởng, tưởng tượng của Lê Thương thăng hoa đến nỗi ông biến dòng sông Cửu Long thành “Chín con long thật lớn, muốn đem tin tới nàng, Núi ngăn không được xuống, chúng kêu ca dưới ngàn.”

Cũng trong bài 2 có 4 câu sau đây, tưởng cũng nên lạm bàn đôi chút: “Có con chim nhỏ bé / Dám ca câu sấm thề / Cuối thu năm Mậu Tý / Tướng quân đem kiếm về…”.

Tại sao “Cuối thu năm Mậu Tý”mà không là một năm Dần, Mẹo nào đó?

Lê Thương sáng tác Hòn Vòng Phu 2 vào cuối 1945 sang đến 1946, Bính Tuất. Thời gian ngắn nhất là 2 năm nữa, là năm Mậu Tý (1948). Vậy thì chỉ có năm Mậu Tý là năm gần nhất và khả thi trong âm nhạc để tướng quân đem kiếm về!

Hòn Vọng Phu III - Người Chinh Phu về


Ảnh bìa do Tinh Hoa xuất bản. (Dân Tộc xuất bản lần đầu vào năm 1949)

Thời điểm năm 1947 là lúc nhạc sĩ Lê Thương trở về lại Sài Gòn, cũng là thời gian ông viết bài Hòn Vọng Phu 3 để hoàn tất một trường ca bất hủ. Ông nói:“Người Chinh Phu Về (HVP3) với tình nghĩa vợ chồng đổi sang tình nghĩa non sông, nhìn đứa con để trao cho nó thanh kiếm sơn hà. “Trao nó đi gây lại cơ đồ”. Linh tính làm người Việt Nam giữa thời khói lửa vẫn đinh ninh là Hạnh Phúc vẫn là mục tiêu không kỳ hạn mà dân tộc phải tìm lâu dài cho đến khi quân bình được những cảm tình trái ngược mà lẽ đời sôi động của cuối thế kỷ đã lôi cuốn bao lớp người vào lãng phí sinh mạng như vào hận tủi bi thiết của nhân sử nòi Việt”.

Không cần phải có hòa âm, phối khí gì cả, chỉ cần khi xướng âm nó chúng ta vẫn nghe, thấy được tiếng vó câu dồn dập, tiếng ngựa hí vang trời của đoàn quân trở về trong niềm vui chiến thằng: Đường chiều/ mịt mù/ cát bay/ tỏa bước ngựa phi…

Sau đó là nhịp điệu chậm lại, diễn tả mối thương tâm của người chinh phụ khi phải chứng kiến cảnh hoang tàn của mộ bia của đình làng như một sử tích:

“…Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng…”

Đến đây, Lê Thương lại nẩy sinh một ý kiến mới, một ý kiến tích cực hơn trong câu chuyện có nhiều phần tiêu cực là hướng đến sự thiêng liêng cao cả của truyền thống chống ngoại xâm, khác đi huyền thoại nhân gian kể về sự tích Hòn Vọng Phu. Trong truyện kể khi người chinh phu trở về, người vợ Tô Thị bồng con lên núi chờ chàng và đã hóa đá. Nhưng Lê Thương vì muốn nêu cao tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm từ thế hệ này sang thế hệ khác của dân tộc Việt Nam. Thanh gươm báu tượng trưng cho lòng yêu nước được kế thừa nên ông đã kể lại rằng: Nàng chinh phụ nhắn, xin lỗi chồng phải nhờ người khác trông nom đứa con, để mình nàng đến tận mỏm núi cao mà vời vợi trông chàng: “Hỡi người chinh phu, anh hùng non sông/Trao người con quý cho người trông nom/ Thiếp xin lỗi thề”.

Nên chi, khi người chồng trở về: “Cầm chiếc gươm chinh phụ di truyền/Chàng bế con trao lại gươm bền/ Rồi chỉ vào sơn hà biến cố /Trao nó đi gây lại cơ đồ”.

***

Sức sống của trường ca Hòn Vọng Phu hơn 70 năm qua, được trình diễn từ những ca sĩ lừng danh, những ban hợp ca chuyên nghiệp cho đến nghiệp dư, các trường học. (Người viết bài này cũng từng hân hạnh đứng trong ban họp ca trường học của mình để tập hát Hòn Vọng Phu).

Phạm Duy đã viết trong hồi ký: “Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê Thương…” và, "…Tôi cũng cho rằng trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất. Mỗi bài nhạc, mỗi giai đoạn nhạc của anh đều chứa đựng thông điệp…”.

Không chỉ Phạm Duy mà nhiều nhạc sĩ tên tuổi khác đều tỏ lòng quý mến, khâm phục tài năng âm nhạc của Lê Thương, nhạc sĩ Văn Cao cũng thừa nhận ông đã ảnh hưởng Lê Thương trong việc học tập và kế thừa nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Thủ bút Lê Thương viết từ Saigon 
cuối thập niên 80’, gửi bác sĩ Phương Hương.
  • Một Vài Kỷ Niệm
Tôi hân hạnh được quen biết và cảm mến nhạc sĩ Lê Thương khoảng năm 1984 hay 1985, không nhớ rõ. Ông dáng người có vẻ phốp pháp, cặp mắt kính dày cộm, giọng nói trầm, ấm. Ông nói năng giản dị nhưng ân cần, điểm giữa là những tiếng cười, có khi thật hiền, có khi thật sảng khoái; ông làm người nghe cuốn hút theo.
Hiểu biết của ông về âm nhạc, về lịch sử, về văn chương thì hẳn là mênh mông. Đây là lần đầu tiên tôi mới biết bài Học Sinh Hành Khúc mà tác giả chính là ông. Những học sinh trước năm 1975 hầu như ai cũng quen thuộc, từng hát bài này, quen thuộc đến độ đã không ít người hát “chế” câu đầu thành “Học sinh là người hũ tiếu ăn hai ba tô”. Tôi nhớ mãi câu nói thật vui, thật hóm hỉnh của ông mục đích là dặn tôi nhớ số nhà để sau này trở lại chơi. “ Thuốc ba con 5 thì dễ nhớ rồi phải không, vậy thì nhớ ông Lê Thương chỉ hút 2 con 5 thôi nhé” (Nhà ông ở số 55 đường Bùi Viện.) Những năm tháng về sau tôi thường đến nhà ông, để được nghe những lời nói, những câu chuyện thật hóm hỉnh nhưng sâu sắc của ông. Lúc nào ông cũng rất lịch sự lắng nghe tôi nói, đối xử với tôi như người ngang hàng. Đây là một đức tính rất hiếm hoi ở người lớn đối với hậu sinh nhỏ thua mình trên 30 tuổi.

Sau 1975 ông có soạn một tập sách, đặt tên là Tạp Sự, ghi lại những chuyện đời của các ca nhạc sĩ cải lương, tân nhạc miền Nam được khoảng trên 300 trang viết tay. Khi Lưu Hữu Phước vào Nam, ghé thăm ông, biết cuốn này, muốn xin ông đem in, ông hẹn trả lời sau. Mấy hôm sau khi nhà thơ Huy Trâm đến chơi ông đem việc này hỏi ý, Huy Trâm nói in nguyên văn thì cũng tốt nhưng sợ là họ thêm bớt chi đó làm hại đến công trình tâm huyết của mình. Sau đó Lê Thương không nhắc đến việc này nữa.

Những văn nghệ sĩ thường lui tới nhà ông giai đoạn này mà tôi thỉnh thoảng gặp là các nhạc sĩ: Lê Cao Phan, Nguyễn Hữu Thiết, Châu Kỳ, Đức Quỳnh, Bắc Sơn… các nhà thơ như Huy Trâm, Tô Như, Hải Phương… Ông lúc nào cũng niềm nở, ân cần và khiêm tốn với tất cả mọi người. Ông luôn nói với những người nhỏ thua ông nhiều tuổi, trong đó có tôi, là hãy cứ gọi ông bằng anh cho thân tình văn nghệ.

Đã ngoài 70 tuổi nhưng Lê Thương rất khỏe, ông đạp xe đạp đến tận Gò Dưa để thăm mộ Hoàng Trúc Ly. Nhiều lần ông và tôi mỗi người một chiếc xe đạp, cót két đạp từ Sài gòn xuống Thủ Đức, đều đi về trong ngày. Ở Thủ Đức có chị Kiêm Lang là một người rất yêu thích văn chương, ca nhạc thường mời anh chị em văn nghệ sĩ xuống nhà chơi, đãi đằng, văn nghệ, có cả lén nhảy đầm. Nhạc sĩ Đức Quỳnh là người có những bước nhảy rất đẹp, thường nhảy biểu diễn, được mọi người vỗ tay tán thưởng thật nhiều.

Khoảng năm 1988, một hôm Ông bảo tôi rằng Ôâng được Thông Tin Văn Hóa Sài Gòn, qua nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, cho phép tổ chức Đêm Nhạc Lê Thương. Tôi rất vui mừng khi nghe tin này, vàtôi thật ngạc nhiên khi ông bảo là nhờ tôi viết script cho chương trình. Tôi hơi hoảng, xin từ chối vì không đủ khả năng. Ông cười tuềnh toàng, nói tôi đã nghĩ rồi, anh làm được mà, gắng giúp tôi đi nhé. Sau đó ông sắp xếp đưa tôi đi gặp một số ca sĩ như Thanh Lan, Hồng Vân… và ca đoàn nhà thờ ở Ngả Tư Bảy Hiền. Việc chưa đi vào đâu thì ngoài Hà Nội gửi điện vô báo là cho phép tổ chức Đêm Nhạc Lê Thương với điều kiện chỉ được trình diễn nhạc của Lê Thương từ trước năm 1945. Ông báo tin cho tôi bằng giọng nói thật bình thường chẳng chút buồn bã. Ông nói thêm là anh biết đấy trước 45 tôi đâu có đủ nhạc để trình diễn một chương trình dài như vậy. Rồi ông cười khè khè. Thế là “Đêm Nhạc Lê Thương” im lìm hủy bỏ.
Bà Lê Thương, với di ảnh và tượng Lê Thương do người bạn thân là nhạc sĩ Lê Cao Phan điêu khắc.(Ảnh 2016)

Năm 91 tôi đi Mỹ, khoảng ba bốn năm sau, hay tin ông bị mất trí nhớ nặng. Ông mất vào năm 1996 trong sự bàng hoàng thương tiếc của anh chị em trong giới văn nghệ và cả dân chúng nữa.

Lê Thương, một nhạc sĩ tài ba, một vị thầy giáo tài giỏi, đức độ, một người nặng lòng với nước non, một nghệ sĩ lãng mạn với tâm hồn bay bổng thanh cao. Tình yêu trong âm nhạc của ông là một loại tình yêu không đắm chìm trong thân phận, dang dở yêu thương của đời thường, mà ông hướng về sự thanh cao, trong sáng như trăng rằm, keo sơn son sắt như “Bà” Tô Thị. Ông phả vào tâm hồn thanh niên học sinh những câu ca “vì dân, vì nước”. Nói về tính hài hước của Lê Thương, người quen biết với ông đều nhận thấy. Trong đời sống thường hằng, cũng như qua những bài nhạc như: Hòa Bình 48, Đốt Hay Không Đốt… Lê Thương đã cho chúng ta những nụ cười mỉm nhẹ nhàng nhưng nhiều khi nôn cả ruột. Nhưng nếu tôi được chọn trong 2 từ ngữ hài hước và dí dỏm để chỉ về ông, tôi sẽ chọn dí dỏm. Vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc. Vừa thâm trầm vừa trí tuệ. Vừa hóm hỉnh vừa chừng mực. Không có sự nhố nhăng, hời hợt hay quá khích trong tinh thần hài hước của Lê Thương.

Hiện nay, căn nhà số 55 đường Bùi Viện Q. 1 Sài gòn của nhạc sĩ Lê Thương may mắn chưa đổi chủ. Bà Lê Thương năm nay 86 tuổi, vẫn còn sống nhờ sự chăm sóc của người con gái tên Thủy trong căn nhà giữ y như ngày xưa. Chị Thủy cho biết là khoảng 10 năm qua, chị đại diện cho gia đình hằng quý nhận được tiền tác quyền nhạc của ông khoảng vài triệu đồng (gần 100 Đô Mỹ) từ Hội Bảo Vệ Tác Quyền Âm Nhạc Việt Nam tại Sài Gòn.

Thật là tình cờ, tôi viết những dòng chữ cuối cùng này vào ngày 17-9-2016, đúng hai mươi năm ngày qua đời của nhạc sĩ Lê Thương và cũng là đêm hội tết Trung Thu của miền Nam California. Trên TV đang trình chiếu cảnh tết Trung Thu cho các em nhi đồng tại khu một khu thương mại. Các thiếu nhi ăn mặc quốc phục, có em còn đội khăn đóng nữa, tay cầm lồng đèn đi tung tăng, hát ngọng ngịu: “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già ôm một mối mơ…” Lòng tôi không khỏi cảm hoài nhớ người nhạc sĩ tiên phong của nền âm nhạc Viêt Nam, giờ đây đã “mờ mịt thức mây”. (Chinh Phụ Ngâm).


Ảnh trước giờ quay phim Đất Khổ: Đạo diễn Hà Thúc Cần đội mũ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, vai chính. Tiếp theo là các diễn viên Vân Quỳnh, Bích Hợp, Xuân Hà, Lưu Nguyễn Đạt. Người đứng giữa là nhạc sĩ Lê Thương trong vai Linh mục Phục, quản nhiệm nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế trong cảnh bom đạn Tết Mậu Thân 1968. Phía sau là Minh Trường Sơn và nữ diễn viên Kim Cương đang bồng em bé. Trong phim, Kim Cương diễn vai bà mẹ Huế điên loạn không ngừng hát ru khi ôm cái bọc gói xác con thơ đã bắt đầu phân hủy.

Đặng Phú Phong
_________________________________________________________________________