Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2017

Lên cao nguyên tìm Cổng nhà Trời

  • Mai Lĩnh

Các dân tộc thiểu số sống trên vùng cao thường gọi những đoạn đường lên đỉnh núi, đỉnh đèo quanh năm mây phủ là Cổng Trời, ý nói là nơi có thể lên tận trời xanh! Không biết Tây nguyên có bao nhiêu cổng trời như vậy, nhưng nổi tiếng nhất chỉ có đèo Mang Yang (huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai) nằm trên QL.19, con đường huyết mạch nối tỉnh Bình Định lên Gia Lai.
Tất nhiên, tôi muốn nói đến những thắng cảnh thiên nhiên, các địa danh vốn có trong dân dã từ lâu chứ không tính các điểm đến du lịch được đầu tư vì mục đích thu lợi rồi tự "phịa" ra nhưng mỹ từ êm tai để thu hút khách du lịch (hoặc do các công ty lữ hành "nổ" để dụ khách). Ví dụ như “Cổng trời tiên cảnh Linh Quy Pháp Ấn” với một khoảng sân dựng lưng chừng đồi và 4 cái cổng chào kiểu Nhật Bản ở đồi 45, thôn 4, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Đó chỉ là một khoảng sân cho du khách tập trung chụp ảnh với phong cảnh núi đồi chung quanh.

Nhưng đi ra vùng cao nguyên đông bắc và tây bắc Việt Nam thì đi đâu cũng có Cổng Trời theo đúng cách gọi của người dân bản địa; mặc dù Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam (1) không có từ này.

Trên cái cổng đá ở đỉnh Fansipan ghi toàn chữ Tàu,
làm cứ như nó thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc?!
Trên đèo Ô Quy Hồ có Cổng Trời Sapa. Tỉnh lộ 177 từ QL.2 đi Hoàng Su Phì có Cổng Trời ở Km 16. QL.4C từ Hà Giang đi Đồng Văn có Cổng Trời Quản Bạ và tỉnh Cao Bằng có Cổng Trời ở thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh mấy năm gần đây trở thành điểm đến cầu khấn của người Kinh từ khắp nơi đổ lên nườm nượp (2). Nhưng có lẽ thu hút nhiều du khách tham quan nhất là Cổng Trời Tam Đảo vì tương đối gần Hà Nội, việc đi lại dễ dàng hơn cả.
Riêng trên đỉnh Fansipan, nhà đầu tư khu du lịch này cũng nhắm vào chuyện tâm linh của du khách khi cho xây chùa như những hạng mục đầu tư du lịch ở hai đầu trạm cáp treo và gần lên đỉnh, họ xây một cái cổng lớn bằng đá, không biết có phải ý muốn nói đó là Cổng Trời thời đại mới không? Sở dĩ tôi chỉ đoán chứ không dám nói nó là cái gì vì trên cổng ghi toàn chữ Tàu. Lúc đến đó, đến trước cái cổng này tôi cũng phân vân "Không khéo nó bảo bên kia cổng là lãnh thổ Trung Quốc thì nguy!" nhưng đã mua vé lên đây thì liều bước qua cổng mà lòng không yên vì thứ chữ ấy thì dốt đặc, không đọc được. Kể thêm đoạn này cho vui chứ dù họ có bảo đó là cổng Trời thì theo tôi, nó cũng là "đồ giả" hay "hàng nhái" mà thôi.

Đến Cổng Trời Quản Bạ ... nói chuyện Núi Đôi
Đang chạy trên đèo, đến một khúc cua trái ôm vách núi, bác tài giảm tốc độ rồi rẽ phải, dừng trên một khoảng đất phẳng nhô ra, có lan can bao quanh và bảo "Đây là đỉnh dốc, có lối lên Cổng Trời, dưới kia là thị trấn Tam Sơn, huyện lỵ của Quản Bạ và Núi Đôi nổi tiếng".

Thoạt tiên, tôi ngạc nhiên vì xưa nay nghe nói Núi Đôi ở Sóc Sơn (Hà Nội) cơ mà?! Nhưng đúng lúc ấy mấy cụm mây vén ra và trời hửng chút nắng nhẹ cuối ngày lộ ra hình ảnh quen quen thường thấy trên mạng. Tôi nghĩ thầm: "Đẹp thật! Ủa sao có ba trái núi liền kề nhau lận chứ đâu chỉ một cặp mà ai cũng gọi Núi Đôi?". Kệ, cứ biết thế, chụp ảnh đã. Giá mà nắng mạnh và trời trong hơn thì ảnh sẽ đẹp hơn khi hình khối mấy quả núi tròn kia càng tăng sức gợi cảm.
Ngắm, chụp một tí thì mây lại kéo đến phủ kín đem theo hơi lạnh và tôi chợt nhớ tới địa danh "Cổng Trời Quản Bạ" từng đọc trong một tiểu thuyết của Vũ Thư Hiên. Quay lại hướng nam hơn chục mét, bên kia đường cũng có bãi đậu xe với mấy túp lều bán hàng cho khách qua đường. Cạnh đó là bậc tam cấp xây đá phủ đầy rêu xanh trơn trượt nên tôi không dám bước lên cao hơn. Ở lưng chừng mỏm núi có gắn tấm bảng lớn giới thiệu về Cổng Trời này.
Cổng trời Quản Bạ nằm cách trung tâm thành phố Hà Giang khoảng 46km trên QL.4C về phía bắc, là cửa ngõ đầu tiên vào công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn. Một thời trước đây, sau cánh cổng đó từng là “vùng tự trị của người Mèo” gồm 4 huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc và Yên Minh. Năm 1939, người Pháp dựng một cánh cửa khổng lồ bằng gỗ nghiến dày 150cm ở ngay cổng trời, ngày nay cánh cửa đó không biết đã vào ... biệt phủ của ai ?!
Trên những quảng cáo tour của các công ty lữ hành thường nói: Đứng tại Cổng trời Quản Bạ, có thể quan sát được cánh đồng của Quản Bạ, Quyết Tiến, Thái An, Đông Hà, Cán Tỷ và Bát Đại Sơn... những điểm du lịch nổi tiếng trong các tour du lịch Hà Giang; tuy nhiên, điều này hiếm xảy ra vì ở độ cao 1500m so với mặt biển và chung quanh chập chùng núi đá, mây mù thường xuyên vây phủ. Có khi lên đến Cổng Trời, tầm nhìn chỉ vài mét, thậm chí thị trấn Tam Sơn và danh thắng Núi Đôi ngay dưới chân dốc còn không nhìn thấy!

Xin nói ngay là địa danh Núi Đôi trong bài thơ nổi tiếng cùng tên của Vũ Cao là nơi khác, thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (3). Núi Đôi Quản Bạ (cách TP. Hà Giang 49km) gắn với truyền thuyết núi Cô Tiên (4). Lâu nay, hình ảnh Núi Đôi Quản Bạ được chụp và phổ biến trên nhiều phương tiện nhưng ít người xem nhận ra sự khác biệt này; nhìn ảnh Núi Đôi Quản Bạ mà nhớ tới... bài thơ của Vũ Cao. Thậm chí từng có ấn phẩm dùng ảnh Núi Đôi Quản Bạ để minh họa khi nói về bài thơ Núi Đôi nổi tiếng của Vũ Cao!
  
 

Phải chăng vì núi Đôi Quản Bạ tròn trịa, "gợi cảm" và nằm trong bối cảnh hữu tình với ruộng bậc thang uốn lượn mềm mại, lại có góc nhìn từ trên cao dễ chụp ảnh đẹp hơn là núi Đôi Sóc Sơn. Nhưng truyền thuyết về núi Cô Tiên ở Quản Bạ lại không nổi tiếng bằng câu chuyện tình bi tráng được Vũ Cao viết thành thơ. Vì thế mới có chuyện nhầm lẫn như thế.

Nhưng cũng cần nói thêm: Do các nhà nhiếp ảnh cố tình cắt tách ra hai ngọn núi tròn thành một "cặp đôi" để gọi đó là Núi Đôi; thật ra, có ba ngọn núi tròn tròn dính liền nhau, "bộ ba" lận chứ không phải "cặp đôi" như hình ảnh được phổ biến nhiều trên mạng hiện nay.
______________________________________________________
(1) Hoàng Phê chủ biên, NVBKHXH Hà Nội phát hành năm 1988.

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

Những cung đường cưỡi mây lên ... trời

  • Mai Lĩnh
Chút nắng xuyên mây xuống thung lũng phía Lai Châu. Nhìn từ đèo Ô Quy Hồ.
Trước khi đặt chân lên vùng Việt Bắc và Tây Bắc, tôi đã nghe nhiều người ca ngợi cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ trên đoạn đường đèo Mã Pí Lèng, nối liền hai huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc, thuộc tỉnh Hà Giang. Nghe nói vậy thì cũng tò mò, vì đường đèo miền Trung tôi đã có dịp đi khá nhiều, kể cả ngồi ô tô và chạy xe gắn máy nhiều lần trong điều kiện thời tiết rất xấu nhưng chưa bao giờ... ngán!

Dốc Chín Khoanh
Nếu nói theo cách của người miền Trung - dải đất hẹp chạy dọc hướng Bắc Nam, một bên là biển, một bên là núi, có nhiều nơi núi cắt ngang chạy ra sát biển - thì lên khỏi vùng Đồng bằng Bắc bộ (châu thổ sông Hồng), từ các tỉnh trung du đi lên biên giới phía bắc, đường bộ toàn là đường đèo quanh co, hiểm trở. Nhưng đối với người ở vùng cao nguyên Tây Bắc và Đông Bắc, chỉ có bốn đoạn đường xứng danh gọi là đèo: Đèo Ô Quy Hồ, đèo Mã Pí Lèng, đèo Khau Phạ và đèo Pha Đin (dài 32 km nằm trên QL.6 nối Sơn La với Điện Biên).

Hồ chứa nước trên dốc Cốc Mạ, phía nam xã Tráng Kìm,
 người dịa phương gọi là "Hồ treo"
Xa xa là đỉnh Fansipan, nhìn từ bản Tả Van, Sapa.
Mạn bắc dốc Bắc Xum.
Fansipan nhìn từ thị trấn Sapa.
Sapa - Mây len vào vùng núi, đường đi mờ mịt.
Lên đỉnh Fansipan bằng cáp treo đung đưa trong mây gió.

Còn lại là vô số... những đoạn đường chỉ gọi là "dốc" nhưng cũng quanh co, hiểm trở giữa núi rừng mà dân các tỉnh phía Nam ra đây vẫn gọi chúng là "đèo". Những con dốc đó, đi tới đâu tôi đều hỏi tên và ghi sổ tay nhưng về nhà xem lại ảnh chụp thì không thể nhớ nổi chỗ nào là đâu. Khi đi thì không sao nhưng về nhà, giở sổ tay và bản đồ ra xem lại bị... chóng mặt vì nhiều quá, rối tung cả lên!

Trong chuyến đi 8 ngày vượt gần 2.000 cây số vào giữa tháng 6-2017, có thể nói là tôi đã được thỏa thích nhìn ngắm vùng cao nguyên chập chùng núi đá qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu... Vượt qua ba con đèo nổi tiếng là Mã Pí Lèng, Ô Quy Hồ và Khau Phạ.


Vượt Mã Pí Lèng : Coi chừng, "qua đèo gió bay"!



Đoạn đường dài 21 km trên QL.4C nối huyện Đồng Văn và huyện Mù Cang Chải băng qua núi Mã Pí Lèng là cung đường "lâng lâng" bay bổng và hồi hộp nhất đối với lữ khách hôm nay cũng là đoạn đường gian nan, cam khổ nhất của những người làm đường ngày xưa. Đó là đoạn khắc nghiệt nhất trên "Con Đường Hạnh Phúc" được hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm (1959-1965) với trên 2 triệu lượt ngày công lao động, trong đó riêng đoạn đèo vượt Mã Pí Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi lấn từng centimet để làm trong 11 tháng.

Tên gọi Mã Pí Lèng, có người cho rằng gọi theo tiếng Quan Thoại chỉ sống mũi con ngựa theo nghĩa đen. Nhưng theo nghĩa bóng tên gọi này chỉ sự hiểm trở bậc nhất của đỉnh núi, nơi những con ngựa cái leo lên đến đỉnh trụy thai mà chết, nơi dốc cao đến mức con ngựa đi qua phải tắt thở, hoặc đỉnh núi dựng đứng như sống mũi con ngựa. Tuy nhiên, theo người H' Mông bản địa thì tên đúng của đèo là Máo Pì Lèng, nghĩa là "sống mũi con mèo".


Không phải lúc nào đi trên đèo Mã Pí Lèng bạn cũng nhìn thấy những mỏm núi nhọn hoắt này dù nó... chẳng đi đâu,
chỉ vì mây trắng xóa hạn chế hết tầm nhìn!

Mây giăng khắp nơi và liên tục di chuyển.
Sông Nho Quế nhìn từ đỉnh đèo chỉ như con mương nhỏ.

Đường đèo hun hút, lưng chừng núi, những xóm nhà lèo tèo vài ba nóc.

Dòng sông len giữa vách núi cao

Chẳng biết họ dùng nguồn nước nào cho sinh hoạt, cũng không thấy đường
mòn lên đèo.

Trên nóc mỏm đá dựng đứng cao ngất vẫn có ruộng bậc thang!!?

Một đoạn sông được chụp bằng zoom 85-200 hết cỡ.

Mây mù vẫn thấy sắc màu vách đá bên kia đèo.



































Đỉnh Mã Pí Lèng thuộc địa phận huyện Mèo Vạc (Hà Giang) trong cao nguyên đá Đồng Văn, có độ cao khoảng 1.200m so với mặt nước biển. Cảnh quan khu vực này lởm chởm đá dựng, trong đó vực sâu sông Nho Quế như xẻ đôi một bên là đỉnh Mã Pí Lèng và một bên là Săm Pun (Sam Pun), nơi có cột mốc biên giới và cửa khẩu thông thương từ Xín Cái sang Điền Bồng, Trung Quốc. Đi trên đèo Mã Pí Lèng nhìn xuống vực sâu, sông Nho Quế chỉ bé như một sợi chỉ.

Các tài liệu địa chất thi nhận việc địa hình vùng núi non này được tạo nên bởi một loạt trầm tích gồm đá vôi, đá phiến ánh, đá vôi silic chứa các hóa thạch cách đây khoảng 426 triệu năm, bao gồm trong đó nhiều vết trượt và vết nứt do các cơn địa chấn tạo núi gây ra. Người ta đã phát hiện ra trong những hang động có những hiện vật hóa thạch vốn là loài giáp xác từ đại dương; từ đó có người cho rằng vùng núi cao này từng là đáy biển và những đỉnh núi từng giống như các đảo của vịnh Hạ Long ngày nay.

Nghe thì biết vậy, tôi không hiểu biết về ngành khảo cổ địa chất đủ để tin hay không tin những thông tin này. Chỉ biết, trước cảnh quan thiên nhiên vùng cao nguyên đá này, những cảm giác về sự kỳ vỹ, tuyệt vời của thiên nhiên mà thấy con người nhỏ bé biết bao. Khác hẳn với những lần ngang dọc trên những con đèo ở Tây nguyên và dọc duyên hải miền Trung với tâm trạng phơi phới giữa trời mây non nước, tôi nhìn về xa xa phía bắc mà cảm nhận mơ hồ về sự khó khăn, gian khổ và cả những hy sinh lớn lao của những người gìn giữ, bảo vệ biên cương tổ quốc với lòng thương cảm và biết ơn.

Phải nói thật là tôi không có cảm giác hồi hộp với những khúc quanh và độ cao của đường đèo, có lẽ do ngồi trong chiếc ô tô kín bưng nhưng khi bước ra khỏi xe để chụp ảnh mới thấy choáng ngợp vì cảnh quan hùng vỹ của quang cảnh trùng trùng núi đá đỉnh nhọn và cái lạnh nhè nhẹ của gió liên tục đưa những đám mây mù lướt qua.

Cảnh biển và đồng bằng ngắm từ các đỉnh đèo miền Trung thường ít "biến đổi" nhưng ở đây, dù núi non vẫn đứng yên nhưng mây trời di chuyển không ngừng. Mây bay ngang, ta như bị "gói" lại trong hơi nước mù mịt, thoắt lại quang đãng, trong xanh và có thể xuất hiện những mảng nắng chiếu rọi rực rỡ vách, lung linh. Tất cả thoắt ẩn, thoắt hiện như trêu ngươi, thử thách người chụp ảnh. Vì không đem theo chân máy (tripod) nên tôi phải tựa máy (hoặc tựa cả người) vào các lan can đường đèo để chụp. Mọi thao tác rất khó khăn vì gió thổi mạnh, nhất là khi dùng telezoom để chụp cảnh xa.

Lúc ấy, tôi đã nghĩ là sang năm phải quay lại Đồng Văn thuê xe máy vượt Mã Pí Lèng vào thời điểm thời tiết thuận lợi hơn. Cảnh quá đẹp, quá hấp dẫn nhưng không thuận lợi mà trong chiều hôm đó tôi lại phải sang Mèo Vạc rồi quay về Yên Minh theo chương trình đã vạch sẵn.


Ô Quy Hồ : Xuống mãi vẫn chưa hết đèo!


Đèo Ô Quy Hồ


 Đó là cảm giác nôn nóng vào buổi sáng 22/6, tôi rời Sapa đi Lai Châu theo tuyến quốc lộ 4D, sau khi dừng xe chụp ảnh tại đỉnh đèo Ô Quy Hồ (gần ranh giới giữa hai tỉnh). Đèo này còn có tên khác là "đèo Trạm Tôn", là tên của một trạm Kiểm lâm (một trong những điểm nghỉ chân ở độ cao 1.940m, giữa tuyến leo núi chinh phục đỉnh Phan Xi Păng trước khi có hệ thống cáp treo đi từ Sapa).

Trước đây những người chinh phục đỉnh Fansipan
thường dừng chân ở trạm Tôn, chỗ khúc quanh trong ảnh 
Tên đèo Ô Quý Hồ được gọi theo tên một bản (làng người dân tộc) nằm cạnh quốc lộ 4D, ở rìa phía tây thị trấn Sa Pa. Ngoài ra, tên gọi đèo Hoàng Liên, hay đèo Hoàng Liên Sơn (do đèo vượt qua dãy núi Hoàng Liên Sơn), hoặc đèo Mây do trên đỉnh đèo quanh năm mây phủ. Người địa phương gọi đỉnh đèo này là "Cổng Trời".

Có người cho rằng vì ở vùng núi này, xưa kia có một loài chim thường cất tiếng kêu da diết, gắn với huyền thoại về câu chuyện tình bi thảm của một đôi trai gái. Từ đó, theo thời gian chính tiếng kêu ô quy hồ của loài chim ấy đã được đặt thành tên cho con đèo ở độ cao gần 2.000m này.

Đường đèo dài ngoằn nghoèo, trong đó 2/3 thuộc địa phận huyện Tam Đường (Lai Châu), phần còn lại nằm trên đất thuộc Sa Pa (Lào Cai). Đây có lẽ là đường đèo dài nhất vùng núi Tây Bắc Việt Nam (gần 50 km). Mặt đường đèo này có nhiều đoạn đang sửa chữa, cảnh trí thiên nhiên không so được với đèo Mã Pí Lèng nhưng cũng ngoạn mục, hơn hẳn những con đèo từ Quảng Ngãi trở vào phía nam.

Qua "sừng trời" Khau Phạ.

Không dài bằng Ô Quy Hồ, nhưng Khau Phạ là đèo hiểm trở và dài nhất trên tuyến QL.32 nối Lai Châu với Yên Bái, có độ dài hơn 30km, nằm giữa huyện Văn Chấn và huyện Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, đèo này đi qua nhiều địa danh nổi tiếng như La Pán Tẩn, Mù Cang Chải, Tú Lệ, Chế Cu Nha, Nậm Có...

Do đèo thường mịt mù sương phủ và đỉnh núi như nhô lên trên biển mây, trong tiếng dân tộc Thái, Khau Phạ có nghĩa là "Sừng Trời" (chiếc sừng núi nhô lên tận trời), hay đôi khi còn được hiểu là Cổng Trời.
Gió từ thung lũng lùa mây về phía sườn đèo và bay lên cao. Một cảnh rất ngoạn mục trên đèo Khau Phạ.
Từ đường đèo nhìn xuống thung lũng, cảnh trí rất nên thơ
 Đường đèo quanh co và dốc đứng vượt qua đỉnh núi Khau Phạ, ngọn núi cao nhất vùng Mù Cang Chải, thường xuyên mịt mù mây phủ và có năm trời quá lạnh, băng tuyết phủ kín trên đỉnh đèo (độ cao 1.500m so với mặt nước biển), tương đương với Đà Lạt nhưng khía hậu khác hẳn. Hôm ấy trời nắng tốt, gió xoáy quanh thung lũng đưa những cụm mây vào vách núi bay bổng lên trông rất đẹp.

Điểm bay dù lượn Khau Phạ, huyện Mù Cang Chải, Yên Bái.
Ở một khúc cua, người ta đã làm một điểm dừng chân cho lữ khách, cũng là nơi tổ chức môn thể thao "dù lượn" bay xuống thung lũng. Khau Phạ đẹp nhất vào mùa lúa, khoảng tháng 9 tháng 10, khi lúa trên chân ruộng bậc thang chín vàng. Người H'Mông coi đèo Khau Phạ là nơi linh thiêng có thể than thấu lòng trời, nên mỗi khi gặp chuyện chẳng lành, mùa màng thất bát, họ lại kéo nhau tới Khau Phạ để khấn Giàng (Ông Trời).

Ở vùng núi đá lởm chởm, ngày xưa mọi giao thông, liên lạc vô cùng khó khăn, trắc trở, phương tiện di chuyển tốt nhất là ngựa, cách phổ biến là cuốc bộ; giao thương, thăm viếng nhau xem ra gian nan lắm, nhưng người dân cao nguyên phía Bắc lại có vẻ dế dàng lên... thăm "Ông Trời". Mỗi tỉnh có vài cái "Cổng Trời"; cứ lên đỉnh đèo là có Cổng Trời. Chẳng bù ở khắp miền Trung và Tây nguyên chỉ có một Cổng Trời (Mang Yang, theo tiếng Jrai) trên QL.19 nối Bình Định với Gia Lai.

Ngày nay, ngựa không còn "phục vụ" ngành giao thông vùng Việt Bắc, Tây Bắc như xưa. Thay vào đó, xe khách chạy như mắc cửi. Từ Hà Nội, bến xe Mỹ Đình tấp nập ngày đêm những chuyến xe giường năm hiện đại đưa khách lên Đồng Văn (Hà Giang), Sapa (Lào Cai) và các tỉnh lân cận. Xe từ tỉnh lị đi các huyện cũng nhiều. Đường quốc lộ, tỉnh lộ... nhìn chung đều rất tốt. Du khách "Tây ba lô" đi xe khách lên vùng cao rồi thuê xe máy, chạy từng nhóm nườm nượp trên các cung đường hẻo lánh; đi đâu cũng gặp họ.

Thứ Tư, 5 tháng 7, 2017

Một buổi sáng ngập tràn hạnh phúc

  • Mai Lĩnh


Khoảng 5 năm trước, sau 46 năm bặt tin, lần đầu tiên tôi biết cô Hảo và cô Ngọc Lan đang định cư ở nước ngoài, về thăm thân nhân và có cuộc gặp mặt thân tình với các đồng nghiệp và học trò cũ thời hai cô dạy tại trường Nguyễn Hoàng (Quảng Trị) xa xưa ở Sài Gòn. Hôm ấy, tôi đang ở Nha Trang, gọi vào hỏi thì biết cô chuẩn bị trở sang Hoa Kỳ. Tiếc quá, đành nghĩ: Biết tin cô bình an, mạnh khỏe thế là mừng và luôn thầm mong có cơ hội được gặp lại cô giáo cũ. Hai năm sau đó, tôi đã gặp được cô Bùi Thị Ngọc Lan.
Thế rồi, sáng ngày 06 tháng 6 vừa qua, tôi có được một buổi hội ngộ tràn ngập hạnh phúc bất ngờ. Ngoài cô Hảo, tôi còn gặp được cô Thanh Long và thầy Nguyễn Dạ Thảo cùng các thầy cô khác từng dạy học ở Nguyễn Hoàng.
Từ trái qua: Thầy Thăng, thầy Bảo, thầy Thảo, thầy Quật, thầy Chức,
cô Hảo (ôm hoa), cô Táo, cô Thanh, cô Thủy, cô Long, cô Hồng

Tôi học cô Thanh Long năm lớp Nhì (nay là lớp Bốn) ở trường Nam tiểu học Quảng Trị, điểm trường cạnh cửa hữu thành Đinh Công Tráng. Cô Thanh Long là "cô giáo" duy nhất của tôi trong 5 năm bậc tiểu học. Thời ấy chưa có ai hô khẩu hiệu "Cô giáo như mẹ hiền" như thời nay, nhưng lạ lắm, hình ảnh và vị trí của cô giáo trong tâm trí, tình cảm học sinh tiểu học thuở ấy rất thiêng liêng; dù lúc đó tôi cũng đã biết cô còn ít tuổi hơn người chị Cả của tôi. Chị tôi, lúc còn ở Hà Nội là nữ sinh trường Trưng Vương, gia đình di cư vào ở Đông Hà, một mình chị vào Huế ở trọ, theo học ở trường Đồng Khánh một thời gian rồi phải nghỉ về dạy tiểu học ở trường Đại Hào, lúc ấy thân phụ cô Long làm hiệu trưởng, do vậy, chị tôi cũng quen biết cô Kim Quy và cô Thanh Long.
Có lần tôi theo chị đến thăm nhà thầy hiệu trưởng, ở trong con hẻm nối đường Trần Cao Vân với đường Quang Trung. Đến nơi, tôi mới biết đó là nhà cô giáo đang dạy mình. Thế là thằng nhóc "nhũn như con chi chi", tôi vừa có cảm giác hãnh diện, vui sướng và vừa... sợ. Tôi sợ gặp cô giáo ở bất kỳ đâu ngoài lớp học. Nhưng may là hình như không ai để ý đến bộ dạng ngây ngô, mất vía của tôi lúc đó!
Lại có lần, một thằng trong xóm cười cười rất dễ ghét và nói với tôi trước mặt mấy đứa khác: "Tau biết tên cô mi rồi nghe!". Một cảm giác ấm ức khó tả, coi đó là một sự "xúc phạm" ghê gớm nhưng tôi chỉ đỏ mặt, cố che giấu cảm xúc dù muốn thụi cho nó một đấm nhưng... không dám vì nó to cao, khỏe hơn tôi nhiều. Cũng may là nó không nói gì thêm. Thời ấy, đối với bọn trẻ con chúng tôi, tên cha mẹ và thầy cô giáo như "điều kỵ húy", không ai được nhắc đến với sự thiếu tôn trọng.
Với thầy Dạ Thảo, tôi có những kỷ niệm khác khi sinh hoạt ở tổ chức Hồng Thập Tự Quảng Trị. Nhưng nhớ đậm nhất là những lần uống cà phê với thầy Thảo và thầy Phan Phụng Thạch.

"Cô đã dạy em biết yêu tiếng Việt"
Người thầy đầu tiên của đời tôi chính là mẹ tôi - một phụ nữ nông thôn không hề biết đọc, viết chữ nào - đã dạy tôi biết nghe, biết nói tiếng Việt và qua lời hát ru, những câu chuyện kể hay ca dao, tục ngữ đã dạy cho tôi những bài học đầu tiên về cuộc sống. Về sau tôi còn được học nhiều hơn từ bà mà có những điều sách vở cũng không có được.
Các thầy cô giáo bậc tiểu học dạy dỗ, rèn luyện cho tôi chính tả và ngữ pháp để không chỉ biết nói, biết viết chữ mà còn hiểu đúng từ vựng tiếng Việt, những điều mà suốt đời tôi đã nhờ đó mà làm được nhiều việc hữu ích.
Cô giáo Mai Thị Hảo
Ở trung học đệ nhất cấp, như mọi học sinh khác, tôi bắt đầu hành trình khám phá nét đẹp, nét vi diệu của ngôn ngữ Việt. Một trong những nội dung hấp dẫn học sinh lớp đệ Lục (nay là lớp Bảy) là các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Cô Mai Thị Hảo dạy môn Việt Văn, đồng thời là giáo sư hướng dẫn (nay gọi là chủ nhiệm) lớp Đệ Lục 3, tôi là lớp trưởng. Cô đối với học trò như mẹ với con và giảng bài bằng những ví dụ gần gũi, dễ hiểu.
Tôi còn nhớ một bài giảng văn có tựa là "Một người sung sướng", trích trong truyện "Cái Ấm Đất" của Khái Hưng. Sau khi phân tích nội dung trích đoạn nói về một nhân vật lao động nghèo vẫn ung dung, cảm thấy vui với lối sống giản dị, lạc quan, cô nói: "Các em có biết ông thợ sửa giày ở lề đường, góc Phan Đình  Phùng với Phan Bội Châu, bên hông tiệm Đồng Dụng không? Đó cũng là một người nghèo nhưng sung sướng như nhân vật trong truyện này". Ví dụ cụ thể, trực quan của cô đã giúp tôi hiểu ra giá trị văn chương là ở nội dung chuyển tải và thông điệp của tác giả, những ý nghĩa sâu sắc được thể hiện bằng ngôn ngữ giản dị chứ không phải ở những câu chữ hoa mỹ, êm tai mà rỗng tuếch. Giá lúc đó, cô đem câu "biết đủ là đủ" ra mà "tán" thì đám học trò đệ Lục sẽ ù tai với triết lý đó rồi trở thành những "ông cụ non", sau này viết gì cũng cố tìm lời cổ nhân (hoặc danh nhân) mà trích dẫn cho kêu, cho ra vẻ ta dây đọc nhiều, biết rộng!
Cũng từ câu chuyện anh Ba bán nước chè của Khái Hưng và ông thợ sửa giày ngoài lề đường qua bài giảng của cô Hảo, tôi bắt đầu hình thành thói quen "quan sát - phân tích - tổng hợp" mọi chuyện chung quanh mình, về sau trở thành một kỹ năng rất cần thiết cho nghề nghiệp và cuộc sống của mình.
Còn nhiều chuyện lắm nếu nhắc đến những điều tôi học được từ cô Hảo. Lúc ấy, không biết cô bao nhiêu tuổi, nhưng tôi nhìn cô như một người mẹ (có nghĩa là đã "già"), nhưng hôm nay gặp lại cô giáo, học trò mới biết cô chỉ "già" hơn mình 14 tuổi và lại còn thấy cô còn rất ... "trẻ". Ở tuổi 82, cô có trí nhớ rất tốt. Khi cô Võ Thị Hồng từ Huế ra dạy ở trường Nguyễn Hoàng thì cô Hảo đã chuyển đi trước đó. Cách đây 5 năm, cô Hảo mới gặp cô Hồng lần đầu tiên, lần này về cô vẫn nhớ rõ.
Sống xa quê hương, mỗi lần về thăm quê thì nhiều việc phải lo nhưng lần nào cô cũng tha thiết mong gặp các đồng nghiệp từng dạy ở trường Nguyễn Hoàng và học trò cũ, càng đông càng vui; đó chính là biểu hiện tích cực của một người có "sức khỏe và tinh thần lạc quan". Tôi muốn nói đến sự..."trẻ trung" như thế!
Ngày đầu tháng 6 vừa qua, gặp lại cô Hảo sau 51 năm xa cách. Những mảnh ký ức rời rạc nhưng đầy cảm xúc trào dâng, tôi đã xin phép ban tổ chức buổi gặp gỡ đặc biệt này để bộc bạch đôi lời với cô giáo cũ và tôi đã có được niềm hạnh phúc nhẹ nhàng khi đã nói được với cô rằng "Cô đã dạy em biết yêu tiếng Việt". Thế là mãn nguyện!
Hôm đó, tôi chỉ chắp nối những suy nghĩ về cô Hảo trong suốt nửa thế kỷ mỗi khi nhớ đến cô mà không biết cô đang sống ở đâu? Hôm nay, sau một tháng lao vào những việc khác, tôi ngồi lại viết ra những dòng này với tâm nguyện kính chúc thầy cô và các em có một cuộc sống nhẹ nhàng, hạnh phúc.
Hôm đó, tôi đã chuẩn bị món quà tặng cô tập sách ảnh "Quảng Trị đi nhớ về thương", trao tận tay cô khi cô mới bước vào phòng - không có ai giới thiệu hay chụp hình lưu niệm - thậm chí có thể lúc ấy cô chưa kịp nhớ ra đứa học trò cũ nay đã tóc trắng một màu là ai?! Ở nơi xa, mong cô xem ảnh để nhớ về Quảng Trị, mảnh đất nghèo khổ nhưng chan chứa tình người.
 _______________________________________________________
Mời đọc thêm:

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang

  • Mai Lĩnh

Cao nguyên đá Đồng Văn là một cao nguyên đá trải rộng 2.356,80 km² trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang. Độ cao trung bình từ 1.000 – 1.600 m. Khu vực cao nguyên đá Đồng Văn là nơi cư ngụ của khoảng 250.000 người dân thuộc 17 dân tộc thiểu số khác nhau của Việt Nam.

























































Cao nguyên có nhiều khu vực núi đá vôi nằm sát chí tuyến Bắc, có độ dốc khá lớn. Các thung lũng, sông, suối bị chia cắt nhiều.



Cao nguyên Đồng Văn là một vùng núi đá có tuổi khác nhau từ kỷ Devon cho đến Pecmi, được bao quanh bởi các núi đất. Nhiều mẫu hóa thạch của các loài đã được tìm thấy có tuổi cách đây 400 - 600 triệu năm. Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ quả đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh quan đặc sắc về thẩm mỹ, tính đa dạng sinh học cao và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa.


Đường bộ xuyên qua các thung lũng, quanh co theo sườn núi mù sương hoặc ngoằn nghoèo len lỏi giữa những quả núi tròn, đỉnh nhọn hoắt.
 Diện tích bị đá tảng phủ đầy, người dân trồng cây ngô (bắp) chen giữ bãi đá; hiếm hoi mới thấy những khoảng đất phẳng để trồng ngô, ruộng bậc thang ở vùng này cũng là của hiếm.

Ruộng bậc thang ở khu vực cao nguyên đá
chiếm diện tích không đáng kể.

Cây ngô được trồng chen khắp các sườn núi đá.

 

Trên đoạn quốc lộ 4C cách thành phố Hà Giang 67km và cách thị trấn huyện Đồng Văn 76km, ngày nay du khách còn có thể thấy dấu tích "bức tường phân chia lãnh thổ" vùng Việt Băc thuở xa xưa nằm hai bên sườn núi.

Bên phải đường QL4C ở km 67

Ảnh chụp ngày 18/6/2017

Bên trái theo hướng Hà Giang đi Đồng Văn,
bên kia con sông nhỏ vẫn còn dấu tích
bức tường xây đá kiên cố


Ở sườn núi bên trái ảnh là ngã ba đi Lũng Cú.


Khu dinh thự của vua Mèo, tên dùng trong các văn bản là Dinh thự họ Vương, hay còn được gọi với tên Nhà Vương tọa lạc trong một thung lũng thuộc địa bàn xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn, Hà Giang. Toàn bộ dinh thự vua Mèo có diện tích gần 3.000 m2, được khởi công vào năm 1919 và hoàn thành vào 9 năm sau đó tức 1928. Quá trình xây dựng tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương 150 tỉ đồng ngày nay. Tháng 7-1993, Nhà Vương đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp vào hạng di tích quốc gia.