Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Non mai


  • Yến Thọ
Người Quảng Trị từ nhiều đời nay đã khá quen thuộc với cặp đôi sông núi Non Mai - Sông Hãn. Non Mai đi kèm với sông Hãn là đất nước, là giang sơn, là địa linh, là khí thiêng và là biểu trưng văn hóa của một vùng đất Quảng Trị.

Cặp đôi sông núi được chọn làm biểu tượng văn hoá này thuộc về người Việt, văn hoá Việt, do người Việt định dạng, tôn vinh và có quá trình định hình chính thức kể từ khi thủ phủ, trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh (dinh, trấn, đạo) Quảng Trị được thiết lập ven bờ sông Thạch Hãn.

Sông Thạch Hãn (石捍江/Thạch Hãn giang/sông Hãn/Nguồn Hàn) - long mạch chủ của toàn vùng Quảng Trị thì không ai là không biết, bởi lẽ nó hiển hiện trên Quốc lộ 1 đi qua thị xã Quảng Trị nhỏ nhắn, nên thơ, gần với Thành Cổ mà người Quảng Trị cũng như khách thập phương đều ít nhất có một lần ghé đến. Thạch Hãn là dòng sông có dòng chảy rộng dài đi qua nhiều vùng địa hình, nhiều khu vực hành chính từ rừng xuống biển; từ đồi núi xuống đồng bằng; từ thượng nguồn về hạ lưu; từ các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số đến các xóm thôn người Việt; từ kẻ mọi xuống kẻ ruộng, kẻ chợ, kẻ biển. Sông Thạch Hãn còn là dòng sông chứa đựng nhiều dấu ấn lịch sử, văn hoá, nơi chứng kiến bao nổi thăng trầm dâu bể của lịch sử, con người và thời cuộc. Thế nhưng, Non Mai / núi Mai Lĩnh thì không phải ai cũng có cơ hội, điều kiện, cơ duyên để một lần được đặt chân lên chốn này. Sông thì hiện hữu, gắn bó mật thiết với từng phận người vì nước là nguồn sống sinh hoạt, sản xuất, đi lại; còn núi thì thường mờ xa tận đâu đó, nơi hang sâu, rừng thẳm, ít hoặc thậm không mấy liên quan đến đời sống con người nên nếu không vì một mục đích cụ thể thì dù kể cả những người sống trong khu vực cũng chẳng mấy quan tâm.

Chính vì thế, Non Mai / núi Mai Lĩnh ở đâu?, nhiều năm nay là câu hỏi ít có lời đáp thoả đáng.

Non Mai có tên chữ Hán là Mai Lĩnh sơn 枚嶺山- Núi Mai Lĩnh.Trong các tài liệu thư tịch cổ viết chữ Mai là 枚, với nghĩa là cái, quả, gốc cây; hoặc theo nghĩa là cái vú chuông; còn nhiều làng xã trong dân gian lại viết chữ Mai là 梅, với nghĩa là cây mơ, cây mai hoặc với nghĩa là mùa. Cả hai nghĩa của từ này đều được các nhà văn nghệ hiểu theo mỗi người mỗi cách. Chữ Lĩnh 嶺 trong từ Mai Lĩnh nghĩa là đỉnh núi có thể thông ra đường cái. Như vậy. Mai Lĩnh hiểu theo nghĩa chiết tự Hán - Nôm thì đó là ngọn núi hình vú chuông có thể thông ra đường cái hoặc cũng có thể hiểu nó là ngọn núi có gắn (hoặc có liên quan) với cây mơ/mai và có thể thông ra đường cái.

Nhà thơ Lương An diễn nghĩa hai từ Mai Lĩnh đầy chất tuỳ hứng thi ca và cho là “Mai Lĩnh, cái tên chữ của nó có nghĩa là “ngọn núi vú chuông”, hai sườn cân đối, chóp chĩa thẳng nhọn lên trời, dường như đánh vào thì sẽ thành tiếng ngân xa nghìn dặm. Từ Đông Hà, theo đường số 9 đi lên, khi qua khỏi Tân Lâm, hễ gặp sông Thạch Hãn thì thấy nó. Núi và sông như đôi tri kỷ không rời nhau, tăng thêm vẻ đẹp cho nhau. Mùa xuân hoa mai nở vàng, hoa chè nở trắng hai bên sườn thoai thoải. Một mùi hương dịu tỏa xa, ướp thêm hương vị cho dòng nước thêm trong, thêm thơm ngát” (1).

Tác giả Đinh Xuân Vịnh khi biên soạn “Sổ tay địa danh Việt Nam” thì diễn theo tên chữ Mai là hoa mai và định vị: “Mai Lĩnh (hay Mai Lãnh) ở huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, trên đường quốc lộ 9, ở km 40, bên sông Thạch Hãn, núi ở huyện Hướng Hoá, đầy mai vàng” (2).

Tuy nhiên, nói và viết vậy nhưng không chắc rằng các nghệ sĩ này đã từng đến Mai Lĩnh, hoặc ít nhất có một cơ hội nào đó từng đặt chân lên Non Mai.

Nhà Văn Xuân Đức trong một đề án xây dựng khu văn hoá - du lịch Mai Lĩnh của Sở VH - TT Quảng Trị đã cất công đi tìm núi Mai Lĩnh và sau một “hành trình khám phá” đầy ngoạn mục cùng nhiều dẫn liệu đầy cảm tính từ các nhân chứng và từ chính tác giả đã đi đến khẳng quyết rằng Động Ngài - ngọn núi mà thư tịch cổ gọi là Động Mang / Mang Sơn (芒山) (3)là núi Mai Lĩnh/non Mai: “Động Ngài (kể cả hòn đá vôi cao đẹp phía đầu và cả dãy động nhấp nhô kéo về tận phường Mai Lĩnh), chính là động Mai Lĩnh. Như vậy, ta có thể ghi lên bản đồ vùng đó những dãy núi chính như sau: Phía bắc và tây bắc là dãy núi Kalu, phía đông là Động Toàn, phía nam là Động Chè, tất cả bọc lấy khu Mai Lĩnh” (4).

Trong tập bản thảo “Tên những đường phố Đông Hà”, tác giả Hoàng Hữu Phong cũng định vị núi Mai Lĩnh một cách khá cụ thể nhưng đầy cảm tính: “Mai Lĩnh có đỉnh cao 118m so với mặt thuỷ hải chuẩn, nơi đó có một diện tích 38 ha là kho đá quý. Dưới chân vùng núi Mai Lĩnh có khe Động Chè, bắt nguồn từ Động Chè phía nam núi Mai Lĩnh, thường có nước quanh năm đổ về nguồn Hàn. Mai Lĩnh ở về phía tây nam và cách huyện lỵ Đakrông khoảng 3km” (5).

Công cuộc lần tìm về với Mai Lĩnh trên thực địa đã được các cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Quảng Trị (cả một số người yêu mến và tò mò về Mai Lĩnh của Trung Tâm Bảo tồn DT&DT) dưới sự hỗ trợ thông tin của những bậc cao niên và sự hướng dẫn của người những người thợ rừng, thợ sơn tràng làng Xuân Lâm, Na Nẫm (Triệu Nguyên) trong 2 đợt:

+ Đợt 1: Ngày 20 tháng 10 năm 2004 (6).
+ Đợt 2: Ngày 15 tháng 8 năm 2010 (7).

Tìm về với núi Mai Lĩnh/Non Mai đối với những người nghiên cứu thuộc thế hệ hiện nay tuy là sự mò mẫm nhưng không có gì khó khăn nếu người muốn tìm chịu khó leo núi và chịu khó định hướng trước lối tư duy của mình. Điều này không có gì phức tạp và cũng không thể là gì khác hơn ngoài việc căn cứ vào cả hai nguồn tư liệu: văn tự và hồi cố.

Về mặt văn tự, các nhà địa chí triều Nguyễn tuy không mô tả cụ thể về Mai Lĩnh sơn mà chỉ ghi lại một dòng ngắn ngủi, vắn tắt: “Núi Mai Lĩnh ở phía tây huyện Thành Hoá” (8) vì có lẽ không ai có điều kiện để lên đến núi này khi mà núi cao, rừng rậm, lắm thú dữ; còn nhìn từ dưới lên thì không thể dễ dàng xác định. Nhưng các bản đồ vẽ về thế sông, hình núi của từng vùng trong địa hạt Quảng Trị thì được cước chú khá rõ về địa điểm.

Bản “Thừa Thiên toàn đồ” (9) lập thời Tự Đức là tài liệu được coi là cổ nhất hiện biết có chú bằng chữ Hán khá nhiều các ngọn núi trên khắp địa hạt Quảng Trị như: Tá Linh sơn, Hắc Thạch sơn, Mang sơn, Mai Đàn sơn, An Thái sơn...; trong đó có Mai Lĩnh sơn (枚嶺山). Địa điểm của Mai Lĩnh sơn nằm về phía nam Mang sơn 芒山(tức Động Ngài - núi thiêng của người Vân Kiều, nằm trên hữu ngạn của sông Đakrông) và về phía tây bắc của An Thái sơn 安泰山; bên hữu ngạn của Thạch Hãn giang nhưng cách một quảng khá xa chứ không sát bờ sông. Phía đông núi Mai Lĩnh là sông Thạch Hãn; hai phía bắc và tây là sông Đakrông lượn vòng.

Bản đồ “Đăng Xương, Hải Lăng nhị huyện hạt” lập thời Đồng Khánh tuy không cước chú núi Mai Lĩnh khi vẽ ngọn núi ở thượng nguồn sông Thạch Hãn, được coi là nơi phát nguyên của con sông này; nhưng trong khu vực của núi có chú Mai Lĩnh phường 枚嶺坊nằm trên sông Thạch Hãn cùng với Trinh Thạch phường 貞石坊 - hai làng Việt hình thành sớm nhất trên vùng thung lũng Ba Lòng. Bản đồ này cho thấy núi Mai Lĩnh nằm ở thượng nguồn sông Thạch Hãn. Và vì có núi Mai Lĩnh nên một phường hiệu của người Việt trong quá trình chuyển đổi tên gọi đã mang tên ngọn núi. Điều này cũng cho thấy tên Mai Lĩnh sơn hầu như chỉ được các nhà địa chí triều Nguyễn (hoặc những người biết chữ Hán) đặt cho từ thế kỷ XIX (cụ thể là thời Tự Đức) với một hàm ý rất Hán; còn trước đó, núi hoặc không có tên hoặc chỉ mang một danh xưng nào đó theo cách gọi của dân gian như: Động Trăn, Động Chấn, hay động Ché. Bởi vì, trước khi được đổi thành phường Mai Lĩnh thì từ thế kỷ XVIII, đơn vị hành chính này đã mang tên phường Mai Hoa 枚花坊. Có phường Mai Hoa nhưng không có núi Mai Hoa. Vậy là cơ sở để có thể tiếp cận danh xưng của Mai Lĩnh là từ Mai Hoa.

Khi có được tên núi Mai Lĩnh thì tên phường Mai Hoa cũng thay đổi theo tên núi. Hành trình ngoạn mục này chỉ xảy ra từ thời Tự Đức (vì các nhà địa chí thời Gia Long mặc nhiên đã không nói gì đến tên núi hay phường Mai Lĩnh) và do những nhà địa chí, những trí thức Hán học người Việt dựng đặt, vinh danh làm cho tên cục mịch, quê mùa dân gian Động Ché, Động Trăn... trở thành tên kiêu sa, đài các của một ngọn núi được chọn làm biểu trưng: Mai Lĩnh sơn, xứng đôi với một dòng sông vốn cũng được Hán hóa rất cao độ: Thạch Hãn giang. Điều này cũng lý giải tại sao Tá Linh sơn còn có tên là Động Voi Mẹp; Linh sơn còn có tên là Động Lòi Reng; còn Mai lĩnh sơn thì chỉ gọi là non Mai - một danh từ được đánh bóng đầy tính biểu tượng.

“Thừa Thiên toàn đồ” và “Đăng Xương, Hải Lăng nhị huyện hạt đồ” (cùng với các bản đồ về đạo Quảng Trị trong “Đồng Khánh địa dư chí”) có thể nói là những cơ sở đáng tin cậy để đi tìm địa điểm toạ lạc của núi Mai Lĩnh.

Hai bản sơ đồ của 2 tác giả người Pháp là Delvaux và H. Pirey khi dựng lại kiến trúc thành Tân Sở vào năm 1914 và 1942 (10) có cước chú đường đi Mai Lĩnh từ Cam Lộ lên băng qua khu vực thành hướng về phía nam theo đỉnh động Ho để vượt đèo 365 vào Ba Lòng, xuống Na Nẫm, Xuân Lâm.

Động Ho nằm về phía nam thành Tân Sở và cũng là phía nam làng Lộc An (Cam Chính) vùng Cùa. Về phía nam Động Ho (Động Mặt Nạ) cũng là làng Na Nẫm, Xuân Lâm (Triệu Nguyên) nằm bên tả ngạn Thạch Hãn. Đường từ Cùa băng qua Tân Sở, vượt đèo 365 đến Bình Trị có một nhánh xuống Na Nẫm, một nhánh xuống Ba Lòng. Nhánh xuống Ba Lòng ở khu vực Làng Hạ. Nhánh xuống Na Nẫm qua sông Thạch Hãn ở làng Xuân Lâm rồi theo khe Làng An lên Mai Lĩnh đến Trại Cá (phía tây núi Mai Lĩnh, bên sông Đakrông). Con đường này từ khi có đường nối từ Quốc lộ 9 ở KM 41 vào vùng Ba Lòng thì không còn được phát huy vai trò đầy đủ của nó. Nhưng từ xa xưa và nhất là thời Pháp thì đây cũng chính là một tuyến quan trọng của con đường thượng đạo xuyên sơn.

Đường từ Cùa vượt đèo 365 qua Ba Lòng lên Mai Lĩnh theo khe Làng An đến Trại cá do tỉnh trưởng Quảng Trị là Nguyễn Văn Đông cho mở và xây các cầu cống vượt khe vào những năm 1958 - 1959. Nguyễn Văn Đông có một đồn điền ở vùng Cùa; nay vẫn còn dấu tích một ngôi biệt thự cũ của gia đình Tỉnh Đông nằm bên trái đường đèo Cùa. Để thuận lợi cho việc khai thác gỗ, các loại lâm đặc sản từ vùng núi rừng phía tây bao la, Nguyễn Văn Đông đã cho đầu tư mở mang và thiết lập nên một con đường nối Cam Lộ với Cùa và Ba Lòng lên thượng nguồn sông Đakrông. Con đường này được hoạch định dựa trên cơ sở con đường mòn từ Cùa lên Mai Lĩnh đã hình thành từ trước đó. Đây chính là con đường thượng đạo - con đường mà ngự đoàn Hàm Nghi đã đi khi rời khỏi thành Tân Sở qua thung lũng Ba Lòng (Xuân Lâm), lên Mai Lĩnh vượt sông Đakrông sang Trại Cá (Tà Long) để lên Lao Bảo, qua Lào sau ngày 26-7-1885.

Con đường này người dân vùng Ba Lòng quen gọi là đường Bà Cả (chị cả của Tỉnh Đông). Tuy nhiên, việc mở con đường từ Làng An đi Trại Cá thực hiện nửa chừng thì bỏ dở do chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Ngày nay, những người thợ rừng vùng Ba Lòng vẫn sử dụng để đi lên Động Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh để khai thác gỗ. Dấu tích để lại của con đường này là 4 mố cầu xây bằng đá và xi măng vượt khe còn có các tên là Cầu 1, Cầu 2, Cầu 3, Cầu 4.

Về mặt hồi cố, Mai Lĩnh sơn/non Mai là cặp đôi sông núi biểu trưng của người Việt, của không gian văn hoá Việt. Nó chỉ gần gũi, thân quen và đi vào tâm thức của người Việt - bắt đầu từ người Việt vùng phía nam Quảng Trị thuộc hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng; sau mới lan dần ra để trở thành biểu trưng, nhập thân vào dân Việt cả vùng Quảng Trị. Người Vân Kiều đương nhiên sẽ không biết và họ không cần gì phải biết khi sông thiêng của họ là Đakrông và núi thiêng của họ không phải là Mai Lĩnh. Tìm về với Mai Lĩnh phải tìm về với người dân Việt trên đôi bờ Thạch Hãn.

Những người Việt thuộc các làng vùng thung lũng Ba Lòng - những người thuộc thế hệ những năm chống Pháp và Mỹ sống tại vùng này và cả những thế hệ trẻ hơn về sau thường xuyên đi rừng với nghề sơn tràng thì không lạ lùng gì với Non Mai/Mai Lĩnh. Đứng từ phía làng Xuân Lâm của xã Triệu Nguyên hay từ Phú Thành của xã Mò Ó, người dân địa phương có thể chỉ lên phía Động Trăn, Động Chấn (nằm phía bắc Động Chè và phía nam động Ché) và khẳng quyết đó là núi Mai Lĩnh.

Nếu có ai đó hỏi một cụ già vùng Ba Lòng rằng: Non Mai - Sông Hãn ở đâu? Người ta dễ dàng chỉ một tay xuống đất và một tay xiên lên trời mà nói: Thạch Hãn đây. Mai Lĩnh đó tề. Bởi thế nên nhạc sĩ Lê Anh trong một ca khúc viết về quê hương Quảng Trị đầy chất dân ca vùng Thạch Hãn: “Giọng hò thương nhớ” đã thốt lên bằng tâm cảm và cũng bằng cả sự hồn nhiên: Thạch Hãn đó, Mai Lĩnh là đây, biết mấy ân tình, giữa muôn trùng sông nước; nắng cháy bão bùng vẫn chung lòng sau trước. “Thạch Hãn đó, Mai Lĩnh là đây” là lời của nhạc sĩ Lê Anh hay cũng chính là lời của người dân địa phương chỉ cho tác giả về Non Mai - Sông Hãn (?!). Có thể có người đã từng lên đến núi Mai Lĩnh và nhiều người chưa bao giờ biết núi Mai Lĩnh ở đâu, nhưng từ trong tâm khảm của mình, người dân đôi bờ sông Thạch Hãn đều đinh ninh một cách chắc chắn rằng núi Mai Lĩnh phải nằm ở thượng nguồn sông này; và vì thế núi và sông mới trở thành cặp đôi của non nước Quảng Trị.

Vì thế, không hề đòi hỏi tiền lộ phí, tiền dẫn đường, những người từng lăn lộn với rừng, gắn bó bới rừng và thừa hưởng những đặc ân từ Động Chè, Động Ché, Đông Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh ở các làng Na Nẫm, Xuân Lâm luôn sẵn lòng đưa những người muốn tìm về với Mai Lĩnh lên đến đỉnh Non Mai trong khoảng thời gian chừng 6 - 8 tiếng đồng hồ băng rừng, lội suối, vượt dốc cả đi lẫn về theo con đường từ Xuân Lâm qua sông Thạch Hãn theo khe Làng An - đường Bà Cả, qua Động Trăn (hoặc Động Chấn).

Hành trình lên non Mai và về với Mai Lĩnh của các cán bộ nghiên cứu Bảo tàng Quảng Trị cùng Trung tâm Bảo tồn Di tích Danh thắng là sự mò mẫm để tìm hướng đi từ trong các văn bản thư tịch cổ, các tài liệu thành văn và cũng là tìm lối đi từ trong thực tiễn qua sự chỉ bảo, hướng dẫn và giúp rập của người dân địa phương và bằng nghị lực vượt khó để leo núi với tất cả tấm lòng yêu mến sông núi quê hương Quảng Trị. Các dữ liệu có được trong quá trình tìm kiếm chính là những cơ sở xác thực để định vị núi Mai Lĩnh.

Núi Mai Lĩnh hiện nằm trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đakông, ở phía tây nam huyện lỵ Đakrông, trên bờ hữu ngạn của sông Thạch Hãn, thuộc địa phận xã Mò Ó (nguyên trước thuộc xã Triệu Nguyên), huyện Đakông. Núi nằm trong quần thể Động Trăn, Động Chấn, phía bắc Động Chè, phía nam Động Ché, có độ cao hơn 800m so với mực nước biển (theo bản đồ UTM là ở độ cao 843m). Số liệu “cao 118m so với mặt thuỷ hải chuẩn... diện tích 38 ha” do Hoàng Hữu Phong đưa ra là thiếu chính xác.

Núi có hình chóp tròn, hơi nhọn, xuôi dần nhiều hơn theo hướng tây - đông. Trên đỉnh có một khoảng đất bằng, hiện chỉ có lau lách và cây bụi. Khu vực này chính là một căn cứ quân sự được xây dựng thời Mỹ và cũng chính là một đồn binh được người Pháp thiết lập sau năm 1885. Đứng từ đỉnh núi Mai Lĩnh (hoặc động Chấn) có thể nhìn thấy thị trấn Krông klang ở về phía đông bắc và sông ĐaKrông, đường 14 trên địa phận xã Tà Ong (Trại Cá) ở về hướng tây.

Từ quần thể Động Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh có Khe Làng An chảy từ tây bắc xuống đông nam đổ vào sông Thạch Hãn ở địa phận làng Xuân Lâm. Khe Làng An cũng là hợp lưu với Khe Khế chảy theo hướng tây nam - đông bắc, phát nguyên từ phía Động Chè. Phía bắc quần thể Động Trăn, Động Chấn, Mai Lĩnh còn có Động Ché; khe Làng An chảy vòng phía đông; còn phía tây là khe Luồi. Khe Luồi chảy từ Động Ché xuống, đổ vào sông Thạch Hãn ở khu vực bản Luồi.

Nếu đứng ở làng Na Nẫm và bờ sông Thạch Hãn thì núi Mai Lĩnh nằm ở phía tây nam, nhưng không thể nhìn thấy vì núi bị khuất sau Động Trăn. Nếu đứng ở làng Xuân Lâm thì vừa nhìn thấy Động Trăn vừa nhìn thấy đỉnh của núi Mai Lĩnh.

Cần nói thêm rằng, phường Mai Hoa/Mai Lĩnh không nằm trong khu vực núi Mai Lĩnh mà là phía bắc núi Mai Lĩnh. Phường Mai Lĩnh nằm phía hữu ngạn sông Đakrông, đối diện với Làng Cát (gần cầu Đakrông); phía nam tiếp với Phú Thành. Phường Mai Lĩnh nằm phía nam Động Ngài. Từ Động Ngài về phía nam là một dãy động nhấp nhô kéo về tận phường Mai Lĩnh; nhưng đó không phải là núi Mai Lĩnh/Non Mai. Động Ngài được ghi trong bản đồ “Thừa Thiên toàn đồ” là Mang Sơn/núi Mang, cũng tức là động Mang. Sách “Đại Nam nhất thống chí chép: “Núi Mang ở phía tây nam huyện Thành hoá, cây cối rậm rạp, khe động gập ghềnh. Tương truyền hành khách đi đến núi này, tức phải tự mang gông ở cổ, khi qua đỉnh núi, vọng bái thần núi rồi tháo gông ra mà đi, làm như thế để cầu yên lành; tục gọi là động mang”. Người Vân Kiều gọi núi này là Kok Yang (núi thiêng, núi Giàng), diễn nôm là Động Ngài. Động Ngài không phải là núi Mai Lĩnh.

Trên núi Mai Lĩnh thì tuyệt nhiên không thấy cây mai. Rất có thể là đã bị phá hết. Từ năm 2004 đến nay, dọc theo con đường đi lên Mai Lĩnh, việc khai thác gỗ trái phép vẫn hàng ngày diễn ra. Rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Rừng còn chẳng có, có đâu mai (!). Tuy thế, ở Động Trăn, dọc theo đường mòn có rất nhiều cây mai con - loại hồng diệp. Những người dẫn đường cho rằng trước đây vùng núi này có rất nhiều mai rừng.

Sông Hãn - Non Mai chính thức trở thành biểu trưng văn hoá kể từ khi lỵ sở, trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Quảng Trị đặt bên dòng Thạch Hãn. Kể từ đó, cặp đôi sông núi này nhập thân vào đời sống văn hoá của người dân đôi bờ Thạch Hãn; trở thành niềm ngưỡng vọng, tự hào của người dân Quảng Trị.

Các ngôi đình, đền miếu, nhà thờ họ ở các làng nằm dọc 2 bên bờ Thạch Hãn đều hướng ra sông. Người dân các làng xã vùng Triệu Phong, Hải Lăng không chỉ coi non Mai - sông Hãn là biểu tượng, là niềm tự hào về giang sơn gấm vóc mà còn là sự gửi gắm niềm tin về sức sống mãnh liệt, sự bền vững muôn thu về đất nước. Tinh thần này được thể hiện thông qua những câu đối, những vần thơ cảm tác được khắc tạc ngay trên các công trình văn hoá truyền thống ở nhiều làng xã.

Cặp câu đối trước cổng trụ đình làng Dã Độ viết: 枚山遠炤千年柱 / 捍水長流萬古春
Mai Sơn viễn chiếu thiên niên trụ/ Hãn thuỷ trường lưu vạn cổ xuân.

Cặp câu đối trước đình làng Thạch Hãn: 石嶺開建井疆遺跡前人存萬古 / 捍江潤培耕墾本鄉後世在千秋
Thạch Lĩnh khai kiến tỉnh cương di tích tiền nhân tồn vạn cổ / Hãn giang nhuận bồi canh khẩn bổn hương hậu thế tại thiên thu.

Cặp câu đối trước cổng đình làng Cổ Thành: 嫩枚日月門城千秋永 / 江永水和柱表百世歌:
Non Mai nhật nguyệt môn thành thiên thu vĩnh / Giang Vĩnh thuỷ hoà trụ biểu bách thế ca.

Cặp câu đối ở đình làng Đâu Kênh viết: 梅山懍烈對面結同鄉/ 捍水威丰中心炤五族:
Mai sơn lẫm liệt đối diện kết đồng hương / Hãn thuỷ uy phong trung tâm chiếu ngũ tộc.
Câu đối ở đình làng Mai Xá Thị viết: 枕後梅仙山鎮堡 / 按前捍越水潮迎:
Chẩm hậu Mai Tiên sơn trấn bảo / Án tiền Hãn Việt thuỷ triều nghinh.

Người dân trên các làng dọc sông Hiếu nhiều khi lại lấy Non Mai / Mai Lĩnh thay cho Tá Linh và coi Non Mai - Sông Hiếu là cặp đôi sông núi biểu trưng của tiểu vùng này.
Trước đình làng Nghĩa An (phường Đông Thanh) có 2 cặp câu đối: 孝水長流千秋在/ 西嶺高山萬古留: Hiếu thủy trường lưu thiên thu tại / Tây Lĩnh cao sơn vạn cổ lưu
Hoặc: Tô bồi rực rỡ ngời SÔNG HIẾU / Trang điểm huy hoàng rạng NÚI MAI.

Bên trong nhà thờ họ Hồ Sĩ làng Nghĩa An còn có câu: 孝水克含千古月/ 梅山長對億年聲:
Hiếu thủy khắc hàm thiên cổ nguyệt/ Mai sơn trường đối ức niên thanh.

Bài thơ “Cảm đề tam quan” ngợi ca địa cuộc ngôi đình làng An Lợi ghi ở nghi môn:

“Uy nghi hướng vọng Mai sơn đỉnh
Trầm mặc trông ra Hãn thuỷ dòng
Nối gót người xưa bồi phúc địa
Dân AN, vật LỢI thoả tấm lòng”.

Nhà thơ Phan Văn Hy cảm nhận về sông Hãn - non Mai như một bức tranh thuỷ mặc mà tạo hoá đã khéo vẽ nên để mỗi lần thưởng ngoạn, lữ khách càng thêm phần thanh thản, gạt bỏ mọi ưu tư, phiền muộn của cuộc đời:

“Ngọn bút thiên công khéo vẽ vời
Bức tranh tuyệt diệu đãi người chơi
Gió Âu, mưa Á tuy dồn dập
Nguồn Hãn non Mai chẳng đổi dời
Ca hát bên sông dòng nước chảy
Thấp cao trước bãi bóng trăng ngời
Mãi vui chung chén xem phong cảnh
Lững quách hơn thua cái chuyện đời”.
Sông Hãn - Non Mai đã đi vào văn hóa như thế đó!

  • Yến Thọ
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 207, tháng 12 năm 2011)
Nguồn: http://www.tapchicuaviet.com.vn/DuLieu/index.asp?main=ndd&TL=ND_QH&ID=8151

_________________________________________________________________________________

(1) Lương An. Non Mai sông Hãn. Tuyển tập Lương An. Nxb Thuận Hoá, Huế 2004, tr. 552.
(2) Đinh Xuân Vịnh. Sổ tay địa danh Việt Nam. Nxb Lao Động, 1996. tr. 332.
(3) Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Sđd, tr. 134.
(4) Xuân Đức. Một số ý kiến có tính chất đề dẫn tại Hội thảo về địa chỉ khu Mai Lĩnh và đề án xây dựng khu văn hoá - du lịch Mai Lĩnh. Tài liệu đánh máy vi tính (8 trang), 2004, tr. 1.
(5) Hoàng Hữu Phong. Tên những đường phố Đông Hà. Hội người cao tuổi Đông Hà. Bản thảo, 2006, tr. 64.
(6) Tham gia đợt khảo sát lần này có: Lê Đức Thọ - Lê Đình Hùng - Nguyễn Quang Chức - Lê Chí Tài - Nguyễn Văn Hùng - Nguyễn Duy Hùng; với sự cung cấp thông tin của ông Đỗ Văn Dược, 75 tuổi và sự dẫn đường của anh Đỗ Việt Hà, 40 tuổi, người thôn Xuân Lâm.
(7) Tham gia đợt khảo sát này có: Lê Đức Thọ - Cái Thị Vượng - Nguyễn Cường - Hoàng Ngọc Thiệp - Nguyễn Thị Cẩm Lệ; với sự dẫn đường của Nguyễn Văn Quỳnh và Trần Văn Kỷ.
(8) Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Sđd, tr. 135.
(9) Bản đồ được lưu giữ tại họ Nguyễn Đức, phường Đúc Huế.
(10) Xem: - H. De Pirey. Une capital éphémère: Tan So (Một thủ đô phù du Tân Sở). B.A.V.H, 1914, Ðặng Như Tùng dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 224 - 234.
- A. Delvaux. Le camp de Tân Sở (Căn cứ Tân Sở). B.A.V.H, 1942, tr. 105 - 114.
(11) Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí. Sđd, tr. 134.

Hoàng Thị ngày xưa, từ thơ đến nhạc


Ca khúc “Ngày xưa Hoàng Thị” được
in rời với tranh màu nước của ViVi

Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của thi sĩ Phạm Thiên Thư được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát cùng nhan đề vào năm 1971, được nhiều ca sĩ lần lượt thể hiện, tạo sức lan toả sâu rộng. Cũng từ đó, đề cập đến nữ nhân vật trong tác phẩm Ngày xưa Hoàng Thị, vì lắm lý do, có những ngộ nhận đã xảy ra khá nực cười.

Phạm Thiên Thư có họ tên Phạm Kim Long, chào đời năm Canh Thìn 1940 tại Hải Phòng trong một gia đình Đông y mà cha gốc Thái Bình, mẹ gốc Bắc Ninh. Giai đoạn 1943 – 1951, Phạm Thiên Thư sống ở Hải Dương, rồi theo gia đình vào Nam, cư ngụ tại Sài Gòn từ năm 1954. Lớp đệ tam (tương đương lớp 10 hiện thời), Phạm Thiên Thư học trường Trung học tư thục Văn Lang ở khu Tân Định, quận 1, chung lớp với một nữ sinh gốc Hải Dương là Hoàng Thị Ngọ tuổi Nhâm Ngọ 1942.

Phạm Thiên Thư kể: "Hoàng Thị Ngọ dáng người thanh mảnh, tóc thả ngang vai. Xếp hàng vào lớp, nàng đứng đầu hàng nữ, tôi đứng cuối hàng nam. Vào lớp, nàng ngồi bàn đầu, tôi ngồi bàn cuối. Ngọ học giỏi, còn tôi thì giỏi… đánh lộn. Thế mà tôi yêu nàng. Yêu đơn phương. Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân. Nhà Ngọ ở đường Trần Quang Khải. Mỗi lần tan trường, nàng ôm cặp đi bộ về nhà, tôi cứ lẽo đẽo theo sau".

Phạm Thiên Thư thi đỗ tú tài bán phần rồi trở thành sinh viên phân khoa Phật học thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1964, Phạm Thiên Thư trở thành tu sĩ Phật giáo với pháp hiệu Thích Tuệ
 Không, trải qua các chùa Kỳ Quang, Từ Vân, Vạn Thọ. Mặc dầu ăn chay và khoác nâu sồng, những mỗi lần đi về khu Tân Định, Phạm Thiên Thư lại bâng khuâng luyến nhớ mối tình đơn phương thuở học trò. Xúc cảm, Phạm Thiên Thư sáng tác bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị, âu yếm gọi rõ tên nàng trong khung cảnh mây đỏ, cây đỏ, hoa đỏ, bụi đỏ:
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
(…)

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng dáng đỏ

Phần đầu bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” trong thi tập
“Ngày xưa người tình” của Phạm Thiên Thư 
(NXB Văn Chương, Sài Gòn, 1974)
Phạm Thiên Thư cho biết: "Năm 1968, tôi ấn hành cuốn sách đầu tay Thơ Phạm Thiên Thư (6) với số lượng ít ỏi, chỉ 500 bản. Lúc đó, tôi là tu sĩ, ngại bất tiện nên chỉ in bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị theo dạng trích. Đến năm 1971, gặp nhạc sĩ Phạm Duy, tôi trao trọn vẹn bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị. Ít lâu sau, Phạm Duy phổ bài thơ này thành bài hát. Năm 1974, tôi in đầy đủ bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị trong thi tập Ngày xưa người tình".

Phạm Duy viết trong hồi ký Nhớ (NXB Trẻ, 2005): “Sự gặp gỡ của tôi với Phạm Thiên Thư – mà thi sĩ gọi là của một ngọn núi với một đám mây – là do hai chúng tôi vô tình cùng đi thăm một người quen đang nằm trong một bệnh viện. Gặp Phạm Thiên Thư ở đó, tôi yêu mến anh ngay. Sau đó, thi sĩ luôn luôn tới nhà tôi đàm đạo. Lúc bấy giờ, tôi đang soạn những bài ca cho tình yêu và tuổi học trò như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi... Đọc được bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị mà anh bạn trao cho, tôi như bắt được viên ngọc quý và xin phổ nhạc ngay.”

Trong “nhạc tập 2” Đưa em tìm động hoa vàng (NXB Trẻ, 2006), trước ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị, Phạm Duy ghi: “Sài Gòn 1971. Tôi gặp Phạm Thiên Thư vào lúc tôi đang soạn những bài ca cho tình yêu và tuổi học trò như Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi. Tôi được vị tu sĩ vừa cởi áo nâu sồng đưa cho một bài thơ cũng nằm trong đề tài này để phổ nhạc, chỉ khác có một điểm là cô bé trong bài thơ không mang những cái tên diễm lệ như Tuyết Nhung hay Dạ Thảo, mà mang một cái tên rất bình dị là Ngọ, Hoàng Thị Ngọ. Tôi dùng một âm giai ngũ cung và một thể nhạc kể truyện để đưa ra tình khúc rất bụi đỏ đường mơ này”.

Phần đầu ca khúc “Ngày xưa Hoàng Thị” do Phạm Duy
phổ thơ Phạm Thiên Thư với chữ viết của nhạc sĩ
trong tập “Con đường tình chúng ta đi”
(NXB Gìn Vàng Giữ Ngọc, Sài Gòn, 1974)

Ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị được Phạm Duy soạn nhịp ¾, tiết tấu valse , âm giai chủ chuyển từ si giáng trưởng sang đô trưởng, tôn vinh kỷ niệm tình yêu học trò tương ứng mạch thơ của Phạm Thiên Thư. Thế nhưng, khi trở thành ca từ trong bài hát cùng nhan đề, lời thơ Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư đã được Phạm Duy linh hoạt chuyển biến khá nhiều về từ ngữ và bố cục.


Với ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị, thoạt tiên, Phạm Duy ghi: “Allegro” E rằng thuật ngữ tiếng Ý kia chưa diễn tả đủ sắc thái cần thiết, nên nhạc sĩ chua nghĩa: “Nhanh mà buồn”. Sau này, nhạc sĩ chỉnh lý: “Kể chuyện”.

Giữa năm 1971, nhạc phẩm Ngày xưa Hoàng Thị liền được in rời với bức ảnh Rừng thu của nhiếp ảnh gia Nguyễn Xuân Tính, rồi tái bản ngay với tranh màu nước tươi trẻ sinh động của hoạ sĩ ViVi . Năm 1974, Phạm Duy ấn hành tập nhạc Con đường tình chúng ta đi (NXB Gìn Vàng Giữ Ngọc) gồm 16 ca khúc, trong đó có Ngày xưa Hoàng Thị.

Cũng từ năm 1971, qua làn sóng phát thanh và truyền hình, đồng thời qua băng từ, ca sĩ Thái Thanh ngân vang Ngày xưa Hoàng Thị. Sau đó, trên các nền hoà âm phối khí khác nhau, Ngày xưa Hoàng Thị được lần lượt thể hiện bởi bao chất giọng: Thái Hiền, Julie Quang, Thanh Lan, Sơn Ca, Hoạ Mi, Hương Lan, Ý Lan, Quang Linh, Khánh Linh, Đức Tuấn, Quốc Đại, Nguyễn Hoàng Nam, Thái Hạnh Quyên, Thu Hiền, Thu Thuỷ, Mai Hương, Quỳnh Hương, Đoan Trang, Phương Vy, Kim Ánh, Thuỳ Dung, Mỹ Huyền, Thanh Ngọc, Thanh Thuý, Thanh Hằng, Thanh Hà ...

Nguồn: Facebook 
Ly Le (Los Angeles, California, Hoa Kỳ

Mời nhấn chuột vào hình để thưởng thức ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị do Thái Thanh trình bày.

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

Nhạc Sĩ Lê Thương & 70 Năm Hòn Vọng Phu



  • Đặng Phú Phong


Nhạc sĩ Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914 tại Yên Viên, Hàm Long, Hà Nội.
Ông mồ côi mẹ từ năm chín tuổi, cha tục huyền, bốn anh em gồm ba trai một gái, được bà nội đem về nuôi. Bà nội là Trùm một họ đạo Thiên Chúa ở khu phố Hàm Long thời ấy nên Lê Thương được bà dưỡng dục trong môi trường đạo giáo. Kiến thức âm nhạc do năng khiếu bẩm sinh và hấp thụ trong môi trường nhà Dòng, chứ không được học ở một trường lớp nhạc lý nào khác. Khi tu ở nhà Dòng ông có tên là Bénilde (theo nhà thơ Huy Trâm), tu được một thời gian rồi hoàn tục, trở về dạy học năm 1935.

Bút danh Lê Thương do ông ghép họ mẹ với tên con sông Thương, dòng sông của kỷ niệm tuổi thơ trong những dịp nghỉ hè với gia đình một người bạn học ở một đồn điền tại Đồng Đăng, nơi có tượng đá Tô Thị vọng phu. Hình tượng và huyền thoại Tô Thị đã in vào lòng ông, để sau này thành một trong những tố chất làm nên trường ca Hòn Vọng Phu bất tử.

Thời 1937, khi thuyên chuyển về dạy học ở Hải Phòng, ông đã cùng với Văn Cao, Hoàng Quý, Hoàng Phú, Phạm Ngữ, Canh Thân... cùng với một số ca sĩ thời bấy giờ thành lập nhóm Đồng Vọng để sáng tác và hát phụ diễn cho ban kịch của Thế Lữ tại Hải Phòng.

Năm 1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ra Hải Phòng diễn thuyết, Lê Thương đến dự và do thính giả yêu cầu, ông có trình bày một bản tân nhạc. Theo cách phân chia của Lê Thương trong bài viết “Nhạc Tiền Chiến- Lời thuật của Lê Thương” thì nền Âm Nhạc Mới (Tân Nhạc) của Việt Nam bắt đầu vào thời điểm này: “Năm xuất hiện chánh thức của phong trào Âm Nhạc Mới là tháng 3 năm 1938, khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên từ Saigon ra hô hào (cho âm nhạc cải cách) tại đất Bắc... Từ đầu 1939, một số bài nhạc của vài nhóm đã thấy treo bán tại các hiệu sách.” (nguồn: khanhly.net/phoxua)

Năm 1941 Lê Thương vào Nam dạy học ở tỉnh Kiến Hòa và Sài Gòn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp đánh Sài Gòn, ông chạy xuống Mỹ Tho, theo kháng chiến ở các vùng quê. Đây là lúc Lê Thương soạn một truyện ca kháng chiến nổi tiếng: “Lòng Mẹ Việt Nam” hay “Bà Tư Bán Hàng,” và phổ nhạc nhiều bài thơ, đặt lời cho một số bản nhạc ngoại quốc.

Khi rời bỏ vùng kháng chiến, ông từng ngồi tù tại Mỹ Tho cuối năm 1946. Cuối 1947 ông được thả và trở về Sài Gòn, thêm một lần bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm Duy và Trần Văn Trạch năm 1951.

Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc, từ những truyện ca, nhạc hài hước, tới những bài hát thiếu nhi. Thời VNCH ông cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non trên đài phát thanh Saigon, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội: Bóng trăng trắng ngà / Có cây đa to / Có thằng Cuội già / Ôm một mối mơ... Ông cũng là tác giả bài Học Sinh Hành Khúc, rất phổ thông tại các trường học: Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau...

Bên cạnh công việc sáng tác, ông dạy sử địa tại một số trường trung học, dạy nhạc sử tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Và Kịch Nghệ Sài Gòn. Từng là một kịch sĩ trong ban kịch của Thế Lữ từ 1930, ông cũng gia nhập ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân. Ông còn tham gia đóng phim Đất Khổ, phim của đạo diễn Hà Thúc Cần dựng theo tác phẩm “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca.

Nhạc sĩ Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về. Ông bà có 9 người con. Ông mất vào ngày 17-9-1996 tại Saigon, thọ 82 tuổi.

  • Hòn Vọng Phu, tác phẩm để đời

Trong sự nghiệp sáng tác của Lê Thương, vượt trên tất cả là ba bài Hòn Vọng Phu. Đây là bản trường ca trường ca đầu tiên của âm nhạc Việt Nam, khởi viết từ 1942, hoàn tất năm 1947.

Ngôn ngữ trong Hòn Vọng Phu được thăng hoa đầy tính thẩm mỹ. Lời hát quyện chặt với hồn nhạc ngũ cung Việt Nam. Hơn 70 năm sau, sức sống của trường ca bất từ này vẫn vượt qua mọi giới hạn của thời thế và tiếp tục âm vang.
Sau đây là những ghi nhận về quá trình sáng tạo tác phẩm âm nhạc để đời này.

Hòn Vọng Phu 1- Đoàn Người Ra Đi

Đoàn Người Ra Đi
 Trên đường vào Nam, Lê Thương đi ngang Phú Yên và bị thu hút bởi tượng Vọng phu cùng quang cảnh non nước “mê hoặc” ở vùng này, từ đây “Lệnh vua hành quân trống vang dồn…” ra đời. Có thể nói hình ảnh tượng đá Vọng Phu ở Phú Yên đã ảnh hưởng mạnh nhất tới cảm xúc của Lê Thương. Ông giải thích: “Núi Vọng phu ở Phú Yên tại một vùng địa lý hơi man rợ, thâm u là đá đẹp nhất, xem từ biển nhìn vào làm cho tôi cảm mến. … Nhớ lại năm 1470 đầu niên hiệu Hồng Đức tại vùng này có "thạch bi sơn" làm biên giới Việt Nam và Chiêm Thành còn sót lại... Cảnh trí đường đèo quanh co, cây cỏ um tùm man rợ làm cho dân gian ghi tạc mấy câu vè siêu thực đầy tính bí hiểm: “Mưa Đồng Cộ, Gió Tu Hoa, Cọp Ổ Gà, Ma Hòn Lớn”.

Lời sơ giải của dân gian kể là: “Trên một cao nguyên nhỏ vùng đèo, thường có mây dày đặc chỉ cần gọi nhau trên đó là mưa rớt xuống (còn nhiều di tích dân cổ Chiêm Thành trên đó).

Đường lên ngọn cao nơi đó, sườn núi bị soi mòn, gió biển thổi qua các khúc quanh co, nghe như tiếng hú âm u. Đó là Mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa…

“Còn Hòn Lớn thì nghe như một cái đảo âm u ngang vùng Phan Rang gì đó, có rất nhiều “ma hồi” đêm cứ lập lòe nhát các ngư phủ ghé thuyền tránh gió đến đó qua đêm!

Quang cảnh hú vía của thiên nhiên, trộn vào ảnh cảm địa lịch qua từng bước đường nam tiến vẫn ám ảnh tâm hồn tôi, một cậu trai giàu tưởng tượng để lúc sống bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre thân mến) phải thể hiện thành bài Hòn Vọng Phu 1.

Đó là những hình ảnh tác động trực tiếp đến ông, và phần sâu xa nhất trong tâm thức ông là tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn/ bản dịch Đoàn thị Điểm. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Lê Phương Chi, nhạc sĩ đã xác nhận điều này: “...xin thú thật là tôi còn chịu ảnh hưởng sâu xa trong Chinh Phụ Ngâm, cụ thể là:

Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt. Thì trong Hòn Vọng Phu I tôi biến thành: “Lệnh vua, hành quân, trống kêu dồn...” / Tới Man Khê bàn sự Phục Ba ..., tôi biến nó thành: “Bến Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng/Bến Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng ...”

Có thể nói, những câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm đã in sâu vào tiềm thức những ngày tôi còn học ở nhà trường. Rồi với những ấn tượng thắng tích đá Vọng Phu qua truyền thuyết thiếu phụ ôm con mòn mỏi trông chồng đến nỗi hóa đá, đã hằn sâu trong tâm tư tôi, nay gặp ngoại cảnh núi sông hùng vĩ hiện ra trước mắt, đó là môi trường thuận lợi tác thành những giai điệu trong nhạc phẩm Hòn Vọng Phu 1.”

Vậy là Hòn Vọng Phu 1 được ra đời năm 1943 tại Bến Tre, nơi ông dạy học. Ở Hòn Vọng Phu 1 có 4 câu sau đây mà tôi đồ rằng đó chính là cái “Key” để dẫn dắt hành trình tâm lý cho cả bài trường ca: “Chiêng trống khua trăm hồi,/ ngần ngại trên núi đồi,/ rồi dậy vang khắp nơi / thắm bao niềm chia phôi…”

Cuộc xuất binh đầy thanh thế, trống đánh chiêng khua, cờ bay phất phới, nhưng, trước khi âm thanh ấy bừng bừng vang dội khắp nơi thì nó lại có một khoảng thời gian “ngần ngại” như một dấu lặng. Lê Thương đã hết sức tinh tế, khi tả cái tình huống vừa hùng tráng của phút ra quân, vừa là nỗi lòng trước cảnh chia ly không hẹn ngày trở lại. “thắm bao niềm chia phôi” của kẻ chinh phu và người chinh phụ. Bài hát là một hành khúc hùng tráng được viết ở cung Re thứ. Từng cụm âm thanh xô đẩy nhau diễn tả khí thế xuất binh… đến phần kết thúc bằng 2 câu: “Người tung hoành bên núi xa xăm, Người mong chồng còn đứng muôn năm” thì nhạc chậm lại và dứt bằng nốt chủ âm vang vọng.

Hòn Vọng Phu II - Ai Xuôi Vạn Lý

Ảnh bìa nhạc do Tinh Hoa xuất bản. (Hương Nam xuất bản lần đầu vào tháng 10 năm 1946)

Trong thư viết gửi bác sĩ Phương Hương , nhạc sĩ Lê Thương cho biết: “Bài Ai Xuôi Vạn Lý (Hòn Vọng Phu 2) là cuối năm 1945 sang 46, tôi theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho đi từ Cai Lậy, thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim qua sông, đi với các em phần đông là học sinh Petrus Ký mà tôi là trưởng đoàn Ca Nhạc với những bài thanh niên lịch sử và riêng Hòn Vọng Phu 1 nghêu ngao qua các làng dừa từ Thành Triệu, An Khánh, Phú An Hòa, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hòa, cho đến Dòng Sầm, gần Bình Đại...
Bỗng Tây đem tàu tấn công 3 Cù Lao, Minh, Bảo, An Hóa. Tiếng Canon 75 bắn tủa vào các bờ sông có dừa, máy bay phun lửa “spitfire” từ trời bắn xuống. Đoàn phải tan rã các em trong đoàn chạy hầu hết về gia đình, chỉ còn tôi và người bạn Ánh (nay đã chết) trốn được vào vùng lá Dòng Sầm cách Bình Đại 4 cây số.

Chúng tôi được vài gia đình người Cao Đài làm đầu tộc đạo nơi đó thương xót giấu trong bìa lá và giúp lương thực sống trong sự khủng khiếp hằng ngày vì tên Pháp lai Leroy và bọn lính Partisans đầu đỏ xục xạo làng xóm gieo khủng khiếp. Lúc đầu chúng tôi còn trốn vào sâu trong ruộng, đem gạo cơm đi ăn tối về nằm trong kho lúa. Sau vì còn thấy nguy hiểm nên anh Tư - bà con với ông đầu tộc đạo dẫn chúng tôi vào bìa lá dòng Sầm dày 4,5 trăm thước sát cửa biển Bình Đại.
Từ trái sang phải: Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương năm 1949.

Tại nơi yên tĩnh này chúng tôi được sống bên bờ rạch dày đặt lá dừa nước! May mà còn chiếc mùng “Tuyn”(tulle) để tránh muỗi, đêm đêm nghe dế than, cá thòi lòi đập đuôi lạch bạch dưới sình và tâm hồn lo âu vô vọng. Tôi hay nghĩ đến sự chết thê thảm cô đơn và lẩn vẩn trong trí óc sự tiếc nuối mênh man như lòng người chinh phụ trong giang san Đèo Cả.

“Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly.”

Nhờ cây viết máy Kaolo khô mực và nước rạch nhỏ vào cho ướt lại, tôi viết mấy ô nhịp trên.

Tâm hồn rạo rực trong mỗi buổi chiều tà làm bốc lên những tiếng mới của bài Hòn Vọng Phu 2, tức Ai xuôi vạn lý, được ghi vội vã lộn xộn nhưng cuồng nhiệt như tâm hồn tôi ghì lấy sự sống.”

Qua lời tỏ bày của Lê Thương, chúng ta thấy được nhờ sự gian nan, thiếu thốn mà ông bật lên những cung nhạc tài hoa trong Hòn Vọng Phu 2. Những lần chạy trốn hiểm nguy, cái chết cận kề, cái chết luôn lảng vảng trước mặt, bằng sự cảm nhận thiết tha với sự sống, ông đem hòa nhập những điều này vào nỗi lòng chinh phụ.

Phần đầu, expressivo, ông ông dành cho người hát diễn tả tự cảm xúc. Chính vì vậy 2 câu: “Khi tướng quân qua đồi, kéo quân, quân theo cờ, Đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ, cho đến bây giờ đã thành / đoàn cổ thụ già” nhờ một dấu nghỉ giữa 2 chữ “thành” và “đoàn” làm ta cảm nhận được cái dài đằng đẵng của thời gian. Từ lúc xuất chinh, cỏ cây chỉ là thơ trẻ mà giờ đây đã trở thành một khu rừng cổ thụ!
Bài Vọng Phu 2 là bài đặt biệt nhất trong 3 bài. Đặc biệt vì 2 bài kia chỉ thuần là kể chuyện; riêng bài này Lê Thương, trong lúc xuất thần ông thấy mình đang là chứng nhân của cảnh người vọng phu cương quyết trơ gan cùng phong nguyệt, đứng lặng nhìn về phía trời xa, một dạ đợi chồng. Ông không còn đóng vai kể chuyện nữa mà nhập vào câu chuyện trong cổ tích để nói lên nỗi lòng thương cảm của mình với nàng chinh phụ. “Có ai xuôi vạn lý nhắn đôi câu giúp nàng, Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng. Thôi đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly…”

Sự thương cảm đã được đẩy lên cao độ, ông quý yêu nàng, khâm phục nàng bằng tất cả tấm lòng nên tôn xưng nàng là “Bà”. Chữ bà được trịnh trọng viết hoa trong bản nhạc. Bà là danh xưng tôn quý dành cho những người phụ nữ có công đức, tài ba giúp đỡ dân lành. Được thờ tự trong am miếu.

Một chi tiết mà có lẽ ít người để ý là “Trời chuyển mưa trong tiết tháng ba, Suốt năm nước nguồn tuôn đổ xuống "Bà", hình hài người bế con nước chảy chan hòa”. Dân gian có câu “Tháng Ba bà già đi biển” ý nói thời tiết vào tháng Ba ở vùng biển rất là tốt, biển êm sóng lặng, không hề có mưa giông gió bão. Thế nhưng lòng son sắt của người đàn bà chờ chồng kia đã động đến thiên đình, dù theo thông lệ không cho mưa vào tháng ba, trời làm mưa như thác đổ, để giúp nàng quên đi cái nắng đổ lửa, cái gió cát xốn xang lòng mắt. Và cũng để “Thấm vào đến tận tâm hồn đứa con”.

Nhìn tượng vọng phu trên dãy Trường Sơn, ông lãng mạn giải thích, núi non thương tình nên kéo nhau đến kính cẩn quì trước mặt nàng tung hô tình yêu bất diệt, và, từ đấy, núi non không đi nữa cùng ở lại với nàng, trở thành dãy Trường sơn của nước Việt. “Nên núi non thương tình, kéo nhau đi thăm nàng Nằm thành Trường Sơn vạn lý xuyên nước Nam.

Nhiều đồi núi khác cũng động lòng "rủ nhau kéo thành đảo xa, ra tới tận khơi ngàn... Xem chàng về hay chưa?”

Cũng vậy, sức liên tưởng, tưởng tượng của Lê Thương thăng hoa đến nỗi ông biến dòng sông Cửu Long thành “Chín con long thật lớn, muốn đem tin tới nàng, Núi ngăn không được xuống, chúng kêu ca dưới ngàn.”

Cũng trong bài 2 có 4 câu sau đây, tưởng cũng nên lạm bàn đôi chút: “Có con chim nhỏ bé / Dám ca câu sấm thề / Cuối thu năm Mậu Tý / Tướng quân đem kiếm về…”.

Tại sao “Cuối thu năm Mậu Tý”mà không là một năm Dần, Mẹo nào đó?

Lê Thương sáng tác Hòn Vòng Phu 2 vào cuối 1945 sang đến 1946, Bính Tuất. Thời gian ngắn nhất là 2 năm nữa, là năm Mậu Tý (1948). Vậy thì chỉ có năm Mậu Tý là năm gần nhất và khả thi trong âm nhạc để tướng quân đem kiếm về!

Hòn Vọng Phu III - Người Chinh Phu về


Ảnh bìa do Tinh Hoa xuất bản. (Dân Tộc xuất bản lần đầu vào năm 1949)

Thời điểm năm 1947 là lúc nhạc sĩ Lê Thương trở về lại Sài Gòn, cũng là thời gian ông viết bài Hòn Vọng Phu 3 để hoàn tất một trường ca bất hủ. Ông nói:“Người Chinh Phu Về (HVP3) với tình nghĩa vợ chồng đổi sang tình nghĩa non sông, nhìn đứa con để trao cho nó thanh kiếm sơn hà. “Trao nó đi gây lại cơ đồ”. Linh tính làm người Việt Nam giữa thời khói lửa vẫn đinh ninh là Hạnh Phúc vẫn là mục tiêu không kỳ hạn mà dân tộc phải tìm lâu dài cho đến khi quân bình được những cảm tình trái ngược mà lẽ đời sôi động của cuối thế kỷ đã lôi cuốn bao lớp người vào lãng phí sinh mạng như vào hận tủi bi thiết của nhân sử nòi Việt”.

Không cần phải có hòa âm, phối khí gì cả, chỉ cần khi xướng âm nó chúng ta vẫn nghe, thấy được tiếng vó câu dồn dập, tiếng ngựa hí vang trời của đoàn quân trở về trong niềm vui chiến thằng: Đường chiều/ mịt mù/ cát bay/ tỏa bước ngựa phi…

Sau đó là nhịp điệu chậm lại, diễn tả mối thương tâm của người chinh phụ khi phải chứng kiến cảnh hoang tàn của mộ bia của đình làng như một sử tích:

“…Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng…”

Đến đây, Lê Thương lại nẩy sinh một ý kiến mới, một ý kiến tích cực hơn trong câu chuyện có nhiều phần tiêu cực là hướng đến sự thiêng liêng cao cả của truyền thống chống ngoại xâm, khác đi huyền thoại nhân gian kể về sự tích Hòn Vọng Phu. Trong truyện kể khi người chinh phu trở về, người vợ Tô Thị bồng con lên núi chờ chàng và đã hóa đá. Nhưng Lê Thương vì muốn nêu cao tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm từ thế hệ này sang thế hệ khác của dân tộc Việt Nam. Thanh gươm báu tượng trưng cho lòng yêu nước được kế thừa nên ông đã kể lại rằng: Nàng chinh phụ nhắn, xin lỗi chồng phải nhờ người khác trông nom đứa con, để mình nàng đến tận mỏm núi cao mà vời vợi trông chàng: “Hỡi người chinh phu, anh hùng non sông/Trao người con quý cho người trông nom/ Thiếp xin lỗi thề”.

Nên chi, khi người chồng trở về: “Cầm chiếc gươm chinh phụ di truyền/Chàng bế con trao lại gươm bền/ Rồi chỉ vào sơn hà biến cố /Trao nó đi gây lại cơ đồ”.

***

Sức sống của trường ca Hòn Vọng Phu hơn 70 năm qua, được trình diễn từ những ca sĩ lừng danh, những ban hợp ca chuyên nghiệp cho đến nghiệp dư, các trường học. (Người viết bài này cũng từng hân hạnh đứng trong ban họp ca trường học của mình để tập hát Hòn Vọng Phu).

Phạm Duy đã viết trong hồi ký: “Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê Thương…” và, "…Tôi cũng cho rằng trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất. Mỗi bài nhạc, mỗi giai đoạn nhạc của anh đều chứa đựng thông điệp…”.

Không chỉ Phạm Duy mà nhiều nhạc sĩ tên tuổi khác đều tỏ lòng quý mến, khâm phục tài năng âm nhạc của Lê Thương, nhạc sĩ Văn Cao cũng thừa nhận ông đã ảnh hưởng Lê Thương trong việc học tập và kế thừa nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Thủ bút Lê Thương viết từ Saigon 
cuối thập niên 80’, gửi bác sĩ Phương Hương.
  • Một Vài Kỷ Niệm
Tôi hân hạnh được quen biết và cảm mến nhạc sĩ Lê Thương khoảng năm 1984 hay 1985, không nhớ rõ. Ông dáng người có vẻ phốp pháp, cặp mắt kính dày cộm, giọng nói trầm, ấm. Ông nói năng giản dị nhưng ân cần, điểm giữa là những tiếng cười, có khi thật hiền, có khi thật sảng khoái; ông làm người nghe cuốn hút theo.
Hiểu biết của ông về âm nhạc, về lịch sử, về văn chương thì hẳn là mênh mông. Đây là lần đầu tiên tôi mới biết bài Học Sinh Hành Khúc mà tác giả chính là ông. Những học sinh trước năm 1975 hầu như ai cũng quen thuộc, từng hát bài này, quen thuộc đến độ đã không ít người hát “chế” câu đầu thành “Học sinh là người hũ tiếu ăn hai ba tô”. Tôi nhớ mãi câu nói thật vui, thật hóm hỉnh của ông mục đích là dặn tôi nhớ số nhà để sau này trở lại chơi. “ Thuốc ba con 5 thì dễ nhớ rồi phải không, vậy thì nhớ ông Lê Thương chỉ hút 2 con 5 thôi nhé” (Nhà ông ở số 55 đường Bùi Viện.) Những năm tháng về sau tôi thường đến nhà ông, để được nghe những lời nói, những câu chuyện thật hóm hỉnh nhưng sâu sắc của ông. Lúc nào ông cũng rất lịch sự lắng nghe tôi nói, đối xử với tôi như người ngang hàng. Đây là một đức tính rất hiếm hoi ở người lớn đối với hậu sinh nhỏ thua mình trên 30 tuổi.

Sau 1975 ông có soạn một tập sách, đặt tên là Tạp Sự, ghi lại những chuyện đời của các ca nhạc sĩ cải lương, tân nhạc miền Nam được khoảng trên 300 trang viết tay. Khi Lưu Hữu Phước vào Nam, ghé thăm ông, biết cuốn này, muốn xin ông đem in, ông hẹn trả lời sau. Mấy hôm sau khi nhà thơ Huy Trâm đến chơi ông đem việc này hỏi ý, Huy Trâm nói in nguyên văn thì cũng tốt nhưng sợ là họ thêm bớt chi đó làm hại đến công trình tâm huyết của mình. Sau đó Lê Thương không nhắc đến việc này nữa.

Những văn nghệ sĩ thường lui tới nhà ông giai đoạn này mà tôi thỉnh thoảng gặp là các nhạc sĩ: Lê Cao Phan, Nguyễn Hữu Thiết, Châu Kỳ, Đức Quỳnh, Bắc Sơn… các nhà thơ như Huy Trâm, Tô Như, Hải Phương… Ông lúc nào cũng niềm nở, ân cần và khiêm tốn với tất cả mọi người. Ông luôn nói với những người nhỏ thua ông nhiều tuổi, trong đó có tôi, là hãy cứ gọi ông bằng anh cho thân tình văn nghệ.

Đã ngoài 70 tuổi nhưng Lê Thương rất khỏe, ông đạp xe đạp đến tận Gò Dưa để thăm mộ Hoàng Trúc Ly. Nhiều lần ông và tôi mỗi người một chiếc xe đạp, cót két đạp từ Sài gòn xuống Thủ Đức, đều đi về trong ngày. Ở Thủ Đức có chị Kiêm Lang là một người rất yêu thích văn chương, ca nhạc thường mời anh chị em văn nghệ sĩ xuống nhà chơi, đãi đằng, văn nghệ, có cả lén nhảy đầm. Nhạc sĩ Đức Quỳnh là người có những bước nhảy rất đẹp, thường nhảy biểu diễn, được mọi người vỗ tay tán thưởng thật nhiều.

Khoảng năm 1988, một hôm Ông bảo tôi rằng Ôâng được Thông Tin Văn Hóa Sài Gòn, qua nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, cho phép tổ chức Đêm Nhạc Lê Thương. Tôi rất vui mừng khi nghe tin này, vàtôi thật ngạc nhiên khi ông bảo là nhờ tôi viết script cho chương trình. Tôi hơi hoảng, xin từ chối vì không đủ khả năng. Ông cười tuềnh toàng, nói tôi đã nghĩ rồi, anh làm được mà, gắng giúp tôi đi nhé. Sau đó ông sắp xếp đưa tôi đi gặp một số ca sĩ như Thanh Lan, Hồng Vân… và ca đoàn nhà thờ ở Ngả Tư Bảy Hiền. Việc chưa đi vào đâu thì ngoài Hà Nội gửi điện vô báo là cho phép tổ chức Đêm Nhạc Lê Thương với điều kiện chỉ được trình diễn nhạc của Lê Thương từ trước năm 1945. Ông báo tin cho tôi bằng giọng nói thật bình thường chẳng chút buồn bã. Ông nói thêm là anh biết đấy trước 45 tôi đâu có đủ nhạc để trình diễn một chương trình dài như vậy. Rồi ông cười khè khè. Thế là “Đêm Nhạc Lê Thương” im lìm hủy bỏ.
Bà Lê Thương, với di ảnh và tượng Lê Thương do người bạn thân là nhạc sĩ Lê Cao Phan điêu khắc.(Ảnh 2016)

Năm 91 tôi đi Mỹ, khoảng ba bốn năm sau, hay tin ông bị mất trí nhớ nặng. Ông mất vào năm 1996 trong sự bàng hoàng thương tiếc của anh chị em trong giới văn nghệ và cả dân chúng nữa.

Lê Thương, một nhạc sĩ tài ba, một vị thầy giáo tài giỏi, đức độ, một người nặng lòng với nước non, một nghệ sĩ lãng mạn với tâm hồn bay bổng thanh cao. Tình yêu trong âm nhạc của ông là một loại tình yêu không đắm chìm trong thân phận, dang dở yêu thương của đời thường, mà ông hướng về sự thanh cao, trong sáng như trăng rằm, keo sơn son sắt như “Bà” Tô Thị. Ông phả vào tâm hồn thanh niên học sinh những câu ca “vì dân, vì nước”. Nói về tính hài hước của Lê Thương, người quen biết với ông đều nhận thấy. Trong đời sống thường hằng, cũng như qua những bài nhạc như: Hòa Bình 48, Đốt Hay Không Đốt… Lê Thương đã cho chúng ta những nụ cười mỉm nhẹ nhàng nhưng nhiều khi nôn cả ruột. Nhưng nếu tôi được chọn trong 2 từ ngữ hài hước và dí dỏm để chỉ về ông, tôi sẽ chọn dí dỏm. Vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc. Vừa thâm trầm vừa trí tuệ. Vừa hóm hỉnh vừa chừng mực. Không có sự nhố nhăng, hời hợt hay quá khích trong tinh thần hài hước của Lê Thương.

Hiện nay, căn nhà số 55 đường Bùi Viện Q. 1 Sài gòn của nhạc sĩ Lê Thương may mắn chưa đổi chủ. Bà Lê Thương năm nay 86 tuổi, vẫn còn sống nhờ sự chăm sóc của người con gái tên Thủy trong căn nhà giữ y như ngày xưa. Chị Thủy cho biết là khoảng 10 năm qua, chị đại diện cho gia đình hằng quý nhận được tiền tác quyền nhạc của ông khoảng vài triệu đồng (gần 100 Đô Mỹ) từ Hội Bảo Vệ Tác Quyền Âm Nhạc Việt Nam tại Sài Gòn.

Thật là tình cờ, tôi viết những dòng chữ cuối cùng này vào ngày 17-9-2016, đúng hai mươi năm ngày qua đời của nhạc sĩ Lê Thương và cũng là đêm hội tết Trung Thu của miền Nam California. Trên TV đang trình chiếu cảnh tết Trung Thu cho các em nhi đồng tại khu một khu thương mại. Các thiếu nhi ăn mặc quốc phục, có em còn đội khăn đóng nữa, tay cầm lồng đèn đi tung tăng, hát ngọng ngịu: “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già ôm một mối mơ…” Lòng tôi không khỏi cảm hoài nhớ người nhạc sĩ tiên phong của nền âm nhạc Viêt Nam, giờ đây đã “mờ mịt thức mây”. (Chinh Phụ Ngâm).


Ảnh trước giờ quay phim Đất Khổ: Đạo diễn Hà Thúc Cần đội mũ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, vai chính. Tiếp theo là các diễn viên Vân Quỳnh, Bích Hợp, Xuân Hà, Lưu Nguyễn Đạt. Người đứng giữa là nhạc sĩ Lê Thương trong vai Linh mục Phục, quản nhiệm nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế trong cảnh bom đạn Tết Mậu Thân 1968. Phía sau là Minh Trường Sơn và nữ diễn viên Kim Cương đang bồng em bé. Trong phim, Kim Cương diễn vai bà mẹ Huế điên loạn không ngừng hát ru khi ôm cái bọc gói xác con thơ đã bắt đầu phân hủy.

Đặng Phú Phong
_________________________________________________________________________

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Lên đỉnh Fansipan ngắm... mây mù


  • Mai Lĩnh

Fansipan (Phan Xi Păng) là ngọn núi cao nhất Việt Nam (3.143 m), cũng là cao nhất trong ba nước Đông Dương - từng được mệnh danh là "Nóc nhà Đông Dương" - thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn, cách thị trấn Sa Pa khoảng 9 km về phía tây nam, nằm giáp hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu. Theo tiếng địa phương, núi tên là "Hủa Xi Pan" và có nghĩa là phiến đá khổng lồ chênh vênh. Với nhiều người, leo lên "mái nhà Đông Dương" từng là một ước mong khám phá, trải nghiệm tuyệt vời nhưng không dễ thực hiện.

Khám phá và chinh phục

Trước kia, hành trình leo núi từ Sapa lên đỉnh Fansipan và quay trở về thường phải mất 3 ngày đối với người có sức khỏe thật tốt và chuyến đi được sắp đặt lộ trình, thời gian hợp lý, chuẩn bị kỹ với sự giúp đỡ của người dân tộc bản địa. Đoàn xuất phát từ Sapa, đi xe đến trạm Kiểm Lâm trên đỉnh đèo Trạm Tôn ở độ cao 1.940m (tức là đèo Ô Quy Hồ) rồi bắt đầu lộ trình... đi bộ, leo núi chinh phục đoạn đường có độ cao chênh lệch 1.103m khá dài đi xuyên rừng.


Cây đỗ quyên


Hoa đỗ quyên

Đối với những người lần đầu chuẩn bị những chuyến leo núi thế này, sẽ có quá nhiều thứ họ cảm thấy cần mang theo (lều trại, đồ chống lạnh, áo mưa, thực phẩm, thuốc men và vật dụng lặt vặt...) nhưng càng đem nhiều, đôi vai và đôi chân càng khổ nên thường cần thuê người mang vác. Mỗi đoàn phải có ít nhất 2 người dẫn đường dày dạn kinh nghiệm nếu không muốn bị lạc trong đường rừng.

Từ trạm Kiểm Lâm du khách phải leo lên trạm dừng chân thứ hai ở độ cao khoảng 2.800m, hạ trại nghỉ ngơi, nấu ăn và qua đêm. Hôm sau, đoàn tiếp tục leo lên tới đỉnh Fansipan (3.143m) vào buổi trưa. Phải tính thời gian để quay về đến trại trước khi trời tối. Sang ngày thứ ba, xuống Trạm Tôn để về lại Sapa.

Leo lên núi rất mệt, nhưng xuống núi cũng không dễ dàng hơn, chỉ một chút lơ là, chủ quan cũng có thể gặp tai nạn. Nhưng những hành trình gian khổ thế này mới đem lại những trải nghiệm hòa mình vào thiên nhiên hùng vỹ, trở thành những giây phút đáng nhớ trong ký ức tuổi thanh xuân. Cái thú vị của chuyến đi không chỉ là có được cảm giác chinh phục "nóc nhà Đông Đương" mà còn khám phá bao điều mới lạ, hào hứng với những giây phút sống giữa núi rừng Tây Bắc vừa thân quen vừa mới lạ. Du khách được người dân bản địa hướng dẫn hái măng rừng, tìm củi về tự mình nhóm bếp lửa nấu ăn hai bữa tối và được nghe những câu chuyện đường rừng hấp dẫn trong hai đêm trong rừng mưa rả rích, lạnh lẽo.

Thời điểm leo núi thích hợp là từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau. Đường lên Fansipan đẹp nhất là khoảng cuối tháng 2, khi các loài hoa rừng bắt đầu nở rộ.

Ngồi cáp treo... "chinh phục" độ cao

Từ cabin cáp treo nhìn xuống thung lũng Mường Hoa

Đoạn bậc cấp hơn hai chục bậc đi bộ lên đỉnh

Tháp chuông cao vút

Từ đầu năm 2016, việc lên đỉnh Fansipan trở nên quá dễ dàng sau khi tuyến cáp treo hiện đại (*) được khai trương hoạt động. Tuyến cáp treo Fansipan Sapa đã giúp du khách rút ngắn thời gian lên đỉnh và xuống núi chỉ còn... 15 phút cho mỗi lượt lên và xuống, cáp treo Fansipan Sapa đã khiến "ước mơ chụp ảnh lưu niệm trên đỉnh Fansipan" cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi trở nên rất dễ dàng (nếu có tiền mua vé), chỉ khó khăn với những người có bệnh về tim mạch.
Với tuyến cáp treo này, hầu như ai cũng có cơ hội lên đỉnh Fansipan. Nhưng mọi trải nghiệm thú vị mang tính khám phá núi rừng Tây Bắc hoàn toàn không còn, cảm giác chinh phục "nóc nhà Đông Dương" càng không có. Mùa hè, lên đỉnh Fansipan chẳng khác ở Sài Gòn lên Langbian, Nha Trang lên Hòn Bà, Đà Nẵng lên Bà Nà hay đỉnh đèo Hải Vân ngắm mây... Tuyệt nhiên không có chút cảm giác sống hòa mình với thiên nhiên Tây Bắc.

Hôm 22/6, thung lũng Mường Hoa và thị trấn Sapa trời nắng đẹp, ngồi trên cabin cáp treo nhìn xuống cảnh rất đẹp nhưng chụp ảnh qua kính cabin không rõ, lại vướng dây cáp; càng lên cao gió càng mạnh, người yếu bóng vía cũng thấy hồi hộp. Từ trạm trên bước ra để tới ga tàu kéo, mây mù và hơi nước ẩm và lạnh, nhiều người phải mặc áo mưa.

Ở hai trạm đầu và cuối cáp treo, không hiểu vì sao đều có chùa (thờ Phật)
 và đền (thờ thần thánh). 


Hiện nay, sau khi đi cáp treo lên đến trạm trên núi, du khách muốn "chinh phục" đoạn còn lại chừng vài trăm bậc cấp xây đá thì đi bộ, người yếu chân có thể đi tàu kéo lên tiếp lên ga trên, nơi chỉ còn phải leo hơn hai chục bậc tam cấp là đến... đỉnh núi. Tha hồ chụp ảnh và tự huyễn hoặc mình với cảm giác đang đứng trên "nóc nhà Đông Dương" dù nhìn quanh chẳng thấy gì, chỉ trắng xóa một màu mây!
Khacha chờ tàu kéo len đỉnh núi

Tàu kéo chỉ có 1 toa xe


Giá vé đi cáp cho một người lớn (600.000đ.), vé đi tàu kéo (100.000đ.); trẻ em được giảm giá. Giá cả dịch vụ ăn uống khá cao nhưng không đắt so với mặt bằng giá dưới đất. Trong khu bán hàng lưu niệm và nhà hàng, mạng Wi-Fi miễn phí phủ sóng rất mạnh và có một điều có thể làm du khách khó tính mấy cũng hài lòng là thái độ giao tiếp, phục vụ của nhân viên từ trạm mặt đất ở Sapa lên đỉnh núi rất thân thiện, hòa nhã và nhiệt tình.

Hai câu hỏi cho "người quản lý" đỉnh Fansipan

Tam quan bằng đá và bê tông được chạm chữ Tàu rất lớn bên trên và mấy câu đối dọc cây cột chữ Việt viết theo lối chữ thảo của Tàu.

Cột cờ hoành tráng đứng uy nghi trên đỉnh
núi cao nhưng không có cờ.


Trên đỉnh Fansipan hiện nay có một cái cổng mới xây dựng (có lẽ ý muốn tượng trưng "Cổng Trời"), quanh năm mây phủ, ở ba vị trí chính trên cổng có chạm chữ Hán (phần lớn dân Việt hiện nay không dùng thứ chữ đó). Liệu có thể ai đó "phiên dịch" cho du khách nước ngoài rằng "đỉnh Fansipan thuộc lãnh thổ Trung Quốc" thì sao? Ở Nha Trang, đã có chuyện hướng dẫn viên du lịch người Trung Quốc đã nói với du khách của họ là "Tháp Bà Por Na Gar" (Thiên Y A Na) vốn xưa kia là thuộc Trung Quốc.

Cũng trên đỉnh núi, có cột cờ khá cao mới xây gần đây, trưa ngày 22/6/2017 chúng tôi thấy đỉnh cột không có cờ. Hỏi một nhân viên ở ga tàu kéo, anh ta giải thích: "Do thời tiết hôm nay treo cờ lên sẽ bị ướt và rũ xuống chứ không bay phất phới được nên không kéo cờ". Với khí hậu tự nhiên trên đỉnh Fansipan, nói như vậy thì mỗi năm có bao nhiêu ngày lá cờ VN phất phới trên đỉnh núi Fansipan?

Hỏi vậy thôi, thực tình tôi cũng không biết đỉnh núi Fansipan hiện nay do ai nắm quyền quản lý hành chính, lãnh thổ nữa. Có lẽ cái sự hoang mang, "không biết" của tôi là do lỗi của tôi không đọc được chữ Tàu chăng???
________________________________________________________________________________

(*) Ngày 02-02-2016, UBND tỉnh Lào Cai và Tập đoàn Sun Group đã khánh thành tuyến cáp treo ba dây, và được đại diện tổ chức Guinness World Record trao bằng chứng nhận 2 kỷ lục Guinness cho cáp treo Fansipan Sapa: Cáp treo ba dây dài nhất thế giới (6.325m) và có độ chênh giữa ga đi và ga đến lớn nhất thế giới (1.410m). Công suất vận chuyển 2.000 lượt khách mỗi giờ.

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Thất vọng Sapa



  • Mai Lĩnh

Lên đến thị trấn lúc 22g10, trời vẫn mưa, chúng tôi đành tìm một khách sạn nghỉ tạm. Thị trấn nhỏ này thay đổi quá nhiều so với 7 năm trước. Sự thay đổi là điều hiển nhiên, chỉ tiếc là nó trở nên xô bồ dị hợm và có những dấu hiệu cho thấy nó sẽ tự đánh mất những giá trị "trời cho" của một "sản phẩm du lịch" độc đáo vùng Tây Bắc.


Hồ cảnh quan giữa thị trấn Sapa được trang trí đèn màu lòe loẹt, diêm dúa.

Phát triển kiểu "Mì ăn liền"

Vài chục cây số đường đèo từ Lào Cai lên đây, chạy xe ban đêm lại thấy dễ chịu hơn khi vào thị trấn, đường phố đầy ổ gà, công trường xây dựng ngổn ngang. Hình ảnh Sapa về đêm lòe loẹt một cách thảm hại khiến tôi liên tưởng đến những cô gái già phải tô trét thật nhiều son phấn để mong mình "nổi bật" trong đêm mưa cao nguyên. Có thể nói, cách phát triển đô thị ở đây đã đánh mất hình ảnh của một Sapa "quý phái và huyền ảo" từng được khơi gợi từ những kiến trúc mang dáng dấp một khu nghỉ dưỡng sang trọng phần nào được ghi lại trong các tác phẩm của nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh cách đây vài chục năm.

Sapa bây giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều cơ ngơi kinh doanh du lịch chen chúc, xô bồ của người miền xuôi... lên đầu tư, không chỉ đánh thức tiềm năng của cô "sơn nữ Tây Bắc" mà đang biến "nàng" thành "cô gái thị thành" với đủ các ngón nghề để "mở ví tiền" của khách du lịch. Ngôi nhà thờ đá từng được coi là hình ảnh mang tính biểu tượng kiến trúc và điểm nhấn cho phong cảnh Sapa đã chìm hẳn trong cái đô thị lô nhô, chen chúc những khối bê tông nhiều kiểu dáng.

Một thời, các hãng lữ hành còn "bịa" ra "Chợ tình Sapa" vốn không hề có trong sinh hoạt truyền thống của người dân bản địa để đánh lừa du khách. Đó là một món "hàng giả", một kiểu ăn theo, đánh lận hình ảnh "chợ tình Khâu Vai" ở huyện Mèo Vạc (Hà Giang), vốn có từ xa xưa, chỉ diễn ra một lần hàng năm. (*)
Hình ảnh chụp ngày 15-11-2010.

Du khách nước ngoài hào hứng quan sát cảnh sinh hoạt,
học tập của thầy trò trường tiểu học Thị trấn Sapa.

Chúng tôi thật sự thấy hụt hẫng khi nhận ra ngôi trường tiểu học nằm giữa trung tâm thị trấn Sapa đã bị "đánh bật" đi đâu đó, nhường chỗ cho các cơ sở kinh doanh "đẻ" ngay ra tiền. Sao người ta không hiểu rằng chính ngôi trường đó cũng là "một sản phẩm du lịch". Du khách đến Sapa để tìm hiểu và trải nghiệm cuộc sống của người dân bản địa chứ không phải để hưởng các dịch vụ, các món "ăn chơi" của người Kinh (điều mà họ có thể có ở Hà Nội và nhiều nơi khác).








Khác hẳn 7 năm trước, người Mông, người Dao, người Giáy... còn có được chút ít "mặt bằng" ngoài trời để bày hàng bán. Hàng của họ là những sản phẩm thủ công, trang phục truyền thống hoặc những món lưu niệm mang đậm sắc thái văn hóa bản địa. Nay toàn bộ diện tích kinh doanh trong trung tâm thị trấn nằm trong tay người vùng xuôi. Người dân tộc bản địa chỉ còn cách đeo bám du khách để bán những món hàng nho nhỏ, những chiếc túi vải thổ cẩm bé tí mà họ có thể mang theo trên mình. Đất ở Sapa ngày nay đúng nghĩa "tấc đất tấc vàng" rồi, trường học còn bị đánh bật thì chợ trời của bà con người dân tộc làm sao có chỗ?!

Những phụ nữ dân tộc bản địa và sinh hoạt mua bán của họ mới là điều
du khách nước ngoài quan tâm .

Hình ảnh chụp ngày 15-11-2010
Vừa gia công vừa bán hàng

Đây là một ghi nhận khiến chúng tôi thất vọng về sự thay đổi có thể coi là bộc lộ quan điểm xây dựng tương lai đô thị này của những quan chức địa phương. Sao họ không nghĩ đến một "thị trấn của người Sapa, phát triển theo phong cách của người Sapa và phục vụ du khách để nâng cao mức sống cho người bản địa" sẽ mãi mãi hấp dẫn du khách bốn phương tìm tới. Nếu đi theo hướng đầu tư hiện nay, Sapa sẽ chẳng hơn gì nhiều vùng đất khác. Trước đây, hình ảnh ruộng bậc thang của Sapa đã "hớp hồn" nhiều nhà nhiếp ảnh, nhưng ngày nay, ruộng bậc thang ở nhiều vùng khác hấp dẫn hơn nhiều, nhất là ở Hoàng Su Phì (Hà Giang), Mù Cang Chải (Yên Bái)....

Người dân tộc bản địa đã bị đẩy ra khỏi sự phát triển chung của Sapa.

Đồng tiền lên ngôi - mạnh ai nấy sống

Đã vậy, địa phương còn để cho diễn ra những chiêu cạnh tranh của người miền xuôi lên đây kinh doanh lấn át người bản địa (sẽ nói rõ hơn trong bài viết về kinh doanh homestay). Một trong những hành động không đẹp đối với du khách là "chận cửa thu tiền" ở nhiều nơi do Phòng Văn Hóa Thông Tin huyện Sapa thực hiện. Khắp vùng đông và tây bắc chỉ có chuyện này ở Sapa. Đường đi vào các bản rất xấu, nhà cửa của dân do dân làm, ruộng cũng của dân, núi non là cảnh thiên nhiên... Khách vào bản, nếu vào quán ăn uống thì trả tiền cho chủ quán, mua hàng thì trả tiền cho người bán... Phòng Văn Hóa Thông Tin huyện Sapa không đầu tư, không phục vụ gì cho du khách, sao được phép chận đường vào bản, buộc du khách phải mua vé mới được vào bản ngắm cảnh và thăm làng???

Chưa hết, cả tư nhân cũng lập phòng bán vé và các bãi đậu xe, ngăn cản khách du lịch đi qua (chỉ khi gặp khách "cứng cựa", họ mới để cho đi qua). Hỏi thì họ bảo vé đó là vào xem biểu diễn ca múa và hướng dẫn viên thuyết minh. Sao họ được quyền chặn đường bắt khách mua vé khi khách không cần đến dịch vụ của họ?

Trạm bán vé của chính quyền ở cổng vào
 bản Tả Phìn. Ảnh chụp ngày 22-6-2017

Trạm bán vé của tư nhân ở lối rẽ vào bản Cát Cát.
Ảnh chụp ngày 21-6-2017

Trạm bán vé của tư nhân ở đầu đường vào bản Cát cát.
Ảnh chụp ngày 21-6-2017

Nhiều tấm bảng nơi công cộng nhắc nhở du khách "Không cho trẻ em tiền". Tôi hiểu thiện ý của nhà chức trách địa phương muốn "bảo vệ" du khách tránh phiền toái với những đứa trẻ đeo bám bán hàng (cũng có khi xin tiền) nhưng thật sự bất bình với thái độ của người ra lệnh viết và treo những tấm bảng đó. Nó cho thấy họ vô trách nhiệm với trẻ em trong khu vực mình quản lý. Thậm chí, khi hỏi chuyện, có người ở địa phương còn cho rằng chuyện "trẻ xin tiền" là do lỗi của du khách... "làm hư" bọn trẻ!

Bé Lù Thị Chư và mẹ là chị Sùng Thị Ly




Vậy tại sao, chúng tôi đi chụp ảnh nhiều nơi ở Bắc Kạn, Hà Giang, Yên Bái, Lai Châu... trẻ em những nơi đó không xin tiền, xin kẹo bánh mà chúng rất hồn nhiên, vui vẻ để chúng tôi chụp ảnh? Trẻ em những nơi đó cũng nghèo khổ chứ không phải khá giả gì hơn những đứa trẻ ở Sapa. Đêm thứ hai ở Sapa, chúng tôi vào nghỉ lại tại nhà ông Lù A Chúng, bản Cát Cát, sáng hôm sau thức dậy, cả nhà ngồi bên bếp lửa uống trà trò chuyện, ăn bánh gạo (loại bánh như bích quy đem ăn vặt dọc đường). Tôi phải nhờ chị chủ nhà hai lần nhắc, đứa con gái anh ấy mới cầm bánh ăn với chúng tôi (có vẻ rất thích thú). Ngay ở Sapa, không phải đứa trẻ nào cũng bám theo du khách để bán hàng hay xin tiền. Đối với số trẻ không may phải lao động sớm đó, chính quyền (và các tổ chức hội đoàn) địa phương nên giúp đỡ chúng chứ không nên tạo ra những rào chắn vô cảm như vậy. Xin đừng coi bọn trẻ đó như "đối tượng" gây phiền phức cho xã hội mà lẽ ra xã hội phải có trách nhiệm với trẻ em như các câu khẩu hiệu mà quý vị quan chức ngành văn hóa, đoàn Thanh Niên, hội Phụ Nữ chắc luôn thuộc lòng.

Vào thăm bản Tả Van, một đoạn đường cụt. Muốn quay đầu xe thì thấy ngay tấm bảng giá. Thực tình, chúng tôi có cảm giác như mình đang ở một vùng lãnh thổ xa lạ nào đó do "sơn lâm thảo khấu" cai quản hơn là đang tham quan vùng Tây Bắc nước mình.
















Thay lời kết

Trên đây là vài cảm nhận khi chúng tôi trở lại Sapa vào tháng 6/2017. Bây giờ xin đưa ra một hình ảnh chụp từ trước cửa nhà thờ đá (vị trí khá cao giữa trung tâm thị trấn), cho thấy một cao ốc lớn đang xây dựng.


Hiện nay, ngôi nhà thờ đá đã bị "chìm" giữa "rừng" bê tông; Phải chăng có thể dự báo là không bao lâu nữa, đứng giữa trung tâm Sapa du khách sẽ không nhìn thấy... núi!
Và du khách đến Sapa chỉ thấy "MỘT GÓC HÀ NỘI" hay đô thị nào đó ở Việt Nam với kiến trúc lai tạp, hoàn toàn không mang sắc màu văn hóa Tây Bắc Việt Nam.

Rời Sapa để sang Lai Châu, chúng tôi thấy nhẹ người và thầm nhủ: "Giã biệt Sapa và sẽ không trở lại"!

________________________________________________________________________

(*) Chợ tình Khau Vai (còn gọi là chợ Phong Lưu) có từ gần 100 năm nay (Có người nói là từ năm 1919). Chợ nằm ở xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang. Chợ tình chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng Ba âm lịch.