Thứ Năm, ngày 16 tháng 6 năm 2016

Những di tích việc bức hại giáo dân ở Quảng Trị từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX

* Mai Lĩnh
Bức phù điêu tại lăng Tử Đạo Trí Bưu

Một số thông tin về việc cấm đạo ở Việt Nam từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX:
- Ở Đàng Trong, 6 đời Chúa Nguyễn đã ban hành 8 sắc chỉ trong thời gian từ 1625 đến 1725.
- Ở Đàng Ngoài, 7 đời Chúa Trịnh đã ban hành 17 sắc chỉ trong thời gian từ 1629 đến 1773.
- Nhà Tây Sơn có 5 sắc chỉ cấm đạo do vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) ban hành 2 sắc chỉ và Cảnh Thịnh ban hàng 3 sắc chỉ. Đặc biệt, vua Quang Trung không ban hành một Sắc Chỉ nào. Quan Thái Phó Trần Quang Diệu là người chống lại việc cấm đạo. Ông chống đối lại việc bắt bỏ tù và đày đoạ các Giáo Sĩ và giáo dân. Vợ chồng Thái Phó (phu nhân là nữ tướng Bùi Thị Xuân) rất có cảm tình với các Giáo Sĩ Thừa Sai.
Cuộc tàn sát năm 1798 ghê gớm hơn cả, với những màn tra tấn dã man như tẩm dầu vào các đầu ngón tay, hay đổ vào rốn, trước khi châm lửa, hoặc treo ngược đầu "tội nhân" xuống... Các cơ sở Công Giáo tại Bố Chính, Nghệ An, Thanh Hoá: nhà thờ, nhà xứ, tu viện, trường học, đều bị cướp phá, dân chúng chạy vào rừng trú ẩn lánh nạn.
Bia tưởng niệm Tử đạo tại La Vang.
- Nhà Nguyễn: Vua Minh Mạng ban hành 7 sắc chỉ cấm đạo. Trong tổng số 117 vị hiển Thánh Tử Đạo, thì một nửa (58 vị) đã bị hành quyết trong vòng 20 năm trị vì của vua Minh Mạng. Vua Thiệu Trị ban 2 sắc chỉ. Vua Tự Đức ban 13 sắc chỉ.
- Những cuộc bức hại do nhóm Văn Thân (1885-1886): Lẽ ra, về lý thuyết, những cuộc bách hại đã chấm dứt (theo khoản 9 của hiệp ước Giáp Tuất) giữa Việt Nam và chính phủ Pháp ngày 15-3-1874, vua Tự Đức đã ký nhận "quyền tự do theo đạo và hành đạo của người Công giáo". Tuy nhiên lịch sử còn ghi chép là sau vua Tự Đức, sự bắt bớ cộng đoàn Công Giáo Việt Nam vẫn tiếp tục, không kém phần dữ dội tàn bạo, và diễn tiến trong hoàn cảnh rối ren khác biệt.
Gốc Đa ở La Vang.

Sau vụ Tôn Thất Thuyết mưu đánh úp Pháp ở thành Mang Cá nhưng thất bại, kinh thành Huế chìm trong biển lửa và chết chóc. Vua Hàm Nghi bỏ kinh thành chạy về Tân Sở, xuống chiếu Cần Vương kháng Pháp. Như một cục than hồng ném vào biển dầu, phong trào Văn Thân Cần Vương bùng lên khắp nơi, tự động tự phát, với khẩu hiệu "Bình Tây Sát Tả" lan rộng trên khắp ba miền Bắc Trung Nam. Chỉ trong mấy năm Văn Thân, số người bị tàn sát vì tín ngưỡng đã lên cao gần bằng tổng số tín hữu đã hy sinh trong hơn hai thế kỷ bách hại, từ đời các Chúa Trịnh Nguyễn cho tới hết đời Tự Đức.

Khi vua Cảnh Thịnh (1798) ra lệnh tàn sát các họ đạo, dân chúng, trên đường thoát nạn, bồng bế con cái chạy và ẩn nấp trong rừng La vang, và nơi đây theo tục truyền, đã được Đức Mẹ hiện ra an ủi và bảo vệ. (*)
(Các thông tin trên đây được lược trích từ trang http://www.nolaviet.com/cttdvn/lichsu/sacchi.html )

Đền thánh Tử Đạo ở Nhan Biều.
Nhà thờ Bố Liêu (xã Triệu Hòa) và bia Tử Đạo.
Tháp lăng Tử Đạo Trí Bưu.

Bia lăng Tử Đạo Trí Bưu
Quảng Trị là nơi có nhiều sự kiện tang thương, giáo dân phải hứng chịu nhiều hành động đàn áp, bức hại khủng khiếp. Ngày nay, cả thế giới đã biết đến thánh địa La Vang (nay thuộc xã Hải Phú, huyện Hải Lăng), nơi tương truyền Đức Mẹ đã hiện ra vào năm 1798. Nhưng ở Quảng Trị, hiện vẫn còn nhiều di tích khác ở Triệu Phong, mà nổi bật nhất là nhà thánh ở giáo họ Dương Lộc.
Các bạn có thể đọc lại những câu chuyện ghê rợn ở giáo xứ Trí Bưu vào ngày 07-9-1885 (nay thuộc thị xã Quảng Trị) và tại nhà thờ Dương Lộc vào ngày 08-9-1885 (nay thuộc xã Triệu Thuận):
***

Từ thị xã Quảng Trị đi thẳng đường Trần Hưng Đạo về phía bắc là tỉnh lộ 64, qua chợ Sãi, xuống đến làng Đại Hào (xã Triệu Đại), rẽ trái là đến địa phận xã Triệu Thuận. Từ đây, bất kỳ người dân nào cũng có thể chỉ đường cho lữ khách tìm đến di tích nhà thờ Dương Lộc, nằm bên đường đi về xã Triệu Độ, nơi có thể vượt qua sông Thạch Hãn bằng chiếc cầu phao dẫn sang thành phố Đông Hà.
Đến nơi, chúng tôi thực sự ngỡ ngàng khi nhìn thấy dấu vết ngôi nhà nguyện chỉ là một khung bê tông cốt thép vỡ gãy, trống trơ, dây leo mọc bám và cây cỏ phủ dày bên dưới. Cạnh đường là mấy đống gạch nằm ngổn ngang. 
Khung bê tông bảo tồn di tích nay trống trơ, gãy vỡ.

Cây dại che phủ di tích

Nhà thờ Dương Lộc nay chỉ còn lại mấy khối gạch bên đường cái.
Thắc mắc về việc nhà thờ Dương Lộc xây dựng vào những năm giữa thế kỷ XIX sao lại có bộ khung bê tông “hiện đại” như vậy, chúng tôi hỏi chủ nhân ngôi nhà kế bên nhưng không có được lời giải thích! Đi thêm 50 mét thì gặp nhà thánh tử đạo Dương Lộc được tu bổ mới mẻ, khang trang (vẫn giữ nét kiến trúc cũ). Ở đây, những thắc mắc được giải đáp sáng tỏ: Ngôi nhà thờ của giáo họ Dương Lộc thời xa xưa nay chỉ còn mấy khối gạch nằm chỏng trơ, công trình thời ấy gần như chỉ dùng gạch và vữa vôi; trước năm 1972, người ta đã đúc một bộ khung bê tông bao trùm toàn bộ nhà thờ để bảo tồn ngôi nhà thờ cổ, nơi đã xảy ra vụ đốt phá, thảm sát hơn 2500 người trong một ngày 08-9-1885! Nhưng sau năm 1972 thì bộ khung bê tông có mái che cho di tích cũng bị bom đạn tàn phá, tan hoang và “báu vật” là nhà nguyện cổ thì chỉ còn lại mấy khối gạch ngổn ngang nằm bên cạnh đường.

Số người bị tàn sát ngày 08-9-1885 (30-7- Ất Dâu) đã được chôn chung một nơi (cách hiện trường vụ thảm sát) khoảng 50 mét, sau đó đã được dựng lên ngôi nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo Dương Lộc (năm 1912); người địa phương gọi là “Lăng Tử Đạo Dương Lộc”. Nhà nguyện này cũng bị hư hại nhiều do chiến tranh và đã được tu sửa lần gần đây nhất, hoàn thành vào năm 2007.

Lăng Tử Đạo Dương Lộc
Nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo Dương Lộc
Bên trong nhà nguyện
Đây là nơi an nghỉ của 4 Linh mục, 65 Nữ tu và hơn 250 giáo dân.

Bia tưởng niệm các Thánh Tử Đạo Dương Lộc





























(*) Trên trang 71 của tập ký sự ảnh "Quảng Trị đi nhớ về thương" có phần ghi chú về sự kiện này không chính xác về thời điểm. Xin quý bạn đọc lại theo thông tin bài này. Tác giả xin cáo lỗi và cám ơn.

Thứ Ba, ngày 07 tháng 6 năm 2016

Đâu rồi những đồi sim?!

* Mai Lĩnh

Sim bên triền đập Trấm, tháng 6/2014
Với ý nghĩ tìm lại những nét đặc trưng về thiên nhiên, con người ở Quảng Trị đã ghi sâu vào ký ức tuổi thơ, hai đề tài toi dành nhiều thời gian suy nghĩ và tìm kiếm nhất là hình ảnh những đồi sim, nắng và gió Lào ở Quảng Trị.

Những “đồi sim” chứ không chỉ là hoa và trái sim. Và với thằng nhóc 6 tuổi như tôi hồi đó, chưa hề biết gì đến bài thơ của cụ Hữu Loan, chỉ thấy thích khi biết loại trái ngon, ngọt đầy ắp rổ của mấy bà ngồi bán dọc đường Phan Bội Châu vô chợ Đông Hà, lại có thể hái ăn thoải mái, không phải mua vì cây sim mọc hoang đầy trên đồi. Hồi đó, nhà tôi ở cái xóm nhỏ thuộc thôn đệ Nhị, cạnh đồng lúa làng Tây Trì. Nếu tính theo đường QL9 thì qua khỏi nhà thờ là “ngoại ô” rồi, con đường lên dốc và quẹo tay trái về hướng tây; bên trái là đồi đất chập chùng mọc đầy sim, bên phải là vùng đất thấp kéo dài ra bờ sông Hiếu. Đi lên, qua khỏi đường sắt là đã thấp thoáng những xóm người Thượng (cách gọi người dân tộc thiểu số hồi ấy).

Khó khăn lắm mới tìm được vài bông hoa lẻ loi sót lại.

Hoa sim cũng phai màu dưới cái nắng hè ở Quảng Trị.











Nhà tôi có sân trước khá rộng, trồng nhiều hoa nhưng không có vườn sau, cũng không có nhà vệ sinh (cả xóm nhà nào cũng vậy nhưng hình như chẳng ai thấy bất tiện); tôi và bọn trẻ trong xóm thường chạy lên “đôộng”, tức là những đồi hoang mọc đầy sim và mua để giải quyết chuyện... "đi đồng" (hồi đó, không nghe ai nói là "đi vệ sinh").
Chuyện trẻ con hồi đó nhiều cái khó kể lại; đại khái là rất hồn nhiên, vô tư và nghịch ngợm, chuyện con nít đi “đôộng” cũng có nhiều cái thích; giờ mỗi lần nghĩ tới, nhiều khi bất chợt mỉm cười và tiếc nuối vu vơ. Thế rồi, những lúc tình cờ nhìn mặt trời chiều rọi những tia nắng vàng nhạt lên cánh hoa tím rung rinh trong gió cũng khiến bọn nhóc ngắm nhìn theo cái cách riêng, không lãng mạn, sầu muộn như người lớn.

Nói về hoa dại, tôi thích những thứ khác hơn hoa sim; nhưng hình ảnh những đồi sim kéo dài tận phía tây, nơi có những rặng núi cao sẫm màu như bức thành phía tây đã gây ấn tượng rất mạnh với tôi từ bé. Sau này, tôi biết, cả tỉnh Quảng Trị, chỗ nào cũng có sim dù chẳng ai trồng. Vùng ven biển, sim mọc chen với nhiều loại cây khác ngoài cây mua (nhìn rất giống sim và chỗ nào có sim cũng có cây mua), khắp các “đôộng” cát trắng bao la, kéo dài từ Cửa Việt vào tận Hải Lăng. Vùng đất đồi La Vang cho tới vùng cát Nhan Biều, Ái Tử, những gò đất rải rác giữa những đồng lúa Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh... đâu đâu cũng có sim. Còn Cam Lộ và vùng đồi núi phía tây thì không chỗ nào không có.
Lá và trái mua, nhìn gần giống sim

Cây mua, mọc xen lẫn với sim như anh em sinh đôi.
Mấy năm gần đây, trở về Quảng Trị, tôi đi tìm khắp nơi (Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Đông Hà, Cam Lộ, lên Cùa, Dăk Rông... chỉ còn thấy một triền dốc (ta luy) ở đập Trấm có sim mọc khá dày. Mong muốn tìm hình ảnh một đồi sim trong ký ức của tôi đành thất bại, dù ở Quảng Trị cây sim vẫn còn ở nhiều nơi nhưng thưa thớt và bị che phủ bởi những rừng tràm bông vàng được trồng để lấy gỗ bán cho các nhà máy làm giấy. Trẻ em ngày nay không còn “làm bạn” cây sim. Trái sim cũng không còn xuất hiện ở chợ làng quê như thuở xưa nữa rồi. Cây sim ở Quảng Trị không có cơ hội trở thành nguyên liệu cho sản phẩm mật sim, rượu sim như ở Phú Quốc. Ở vùng đảo Phú Quốc, ngoài hột tiêu vốn đã “thành danh” trên thương trường xuất khẩu; người dân đảo đã làm nên thương hiệu rượu sim được du khách ưa chuộng. Công ty Sim Sơn, sau khi thành công với hai sản phẩm mật sim và rượu sim đã nghiên cứu, sản xuất thành công rượu vang làm từ trái giác, một loại cây mọc hoang trên đảo thường được gọi là “nho rừng”.

Đồi sim ở đập Trấm, cuối tháng 6/2014.

Sim trồng để làm rượu ở Phú Quốc 












Chỉ vì không “đẻ” ra tiền, cây sim đành chịu phận “ghẻ lạnh”. Dù không ai đào, phá những đồi sim nhưng cây tràm cao hơn (cao về giá trị kinh tế và chiều cao thân cây) đã phủ bóng che khuất những đồi sim - chỉ được mỗi chuyện... nhuộm tím chiều hoang sâu lắng trong lòng người tìm về thăm Quảng Trị.

Thứ Hai, ngày 06 tháng 6 năm 2016

Lễ tảo mộ ở Đại An Khê, Hải Lăng.

* Mai Lĩnh

Nói tới tục tảo mộ, hay chạp mả, người ta thường liên tưởng đến câu 
Thanh minh trong tiết tháng Ba,
lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh
trong truyện Thúy Kiều (Nguyễn Du). Nhưng đó là chuyện kể theo phong tục và bối cảnh Trung Hoa ngày xưa.
Người Việt, từ xưa đã có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, và thời tiết có những khác biệt theo vùng miền nên ngày tảo mộ, chạp mả được tiến hành vào những thời điểm khác nhau, nhất là vì cuộc sống thay đổi nhưng tựu trung vẫn nhằm hai mục đích chính là thăm viếng, sửa sang nơi an nghỉ của tiền nhân (người đã khuất) để tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ gia tiên; thứ hai, đó cũng là dịp để người trong gia tộc có dịp quần tụ trong điều kiện sống tản mác khắp nơi, quanh năm lo chuyện mưu sinh.

Ngày xưa, khi hầu hết người dân Việt sống quần tụ ở làng quê mình, phần lớn mồ mả thường chôn cất rải rác trên các mảnh đất xen giữa ruộng đồng, trước tết Nguyên đán hàng năm, nhà nhà thường phát quang và đắp lại các nấm mộ hoặc sơn phết lăng mộ của người thân cho mới như việc sửa sang ngôi nhà của mình để chuẩn bị đón năm mới. Việc này nhà nào tự lo nhà nấy, thường gọi là chạp mả. Sau tết lại có ngày, nhiều gia đình trong cùng chi, phái hẹn nhau cùng tảo mộ ở các lăng mộ ông bà chung.

Ngày nay, do cuộc sống xã hội thay đổi, nhiều thế hệ đã phải rời xa làng mạc, quê hương; người ta đã nghĩ đến việc quy tập mồ mả thành những nghĩa trang của đại gia đình, chi phái trong họ mà con cháu hầu hết đều sinh sống phương xa. Những trường hợp như vậy, không thể chạp mả riêng từng nhà vào dịp cuối năm âm lịch vì ai nấy còn phải lo cuộc mưu sinh xa xứ và cũng không thể theo tục tảo mộ và thời tiết “Thanh minh trong tiết tháng Ba...” như thuở trước, mà cùng hẹn nhau một ngày nào đó thuận tiện cho mọi gia đình cùng có người đại diện về quê tảo mộ.

Xã hội thay đổi là tất yếu và điều kiện xã hội khiến tập quán, phong tục xã hội theo đó cũng thay đổi là điều hiển nhiên. Đầu tháng 7 năm 2014, trong chuyến đi Quảng Trị, tôi có dịp theo bạn Bùi Phước Vĩnh về làng Đại An Khê (Hải Lăng) trong dịp lễ tảo mộ. Nghĩa trang tộc họ này được xây dựng trên vùng rú cát (nay được trồng cây bạch đàn và tràm bông vàng) thuộc địa phận làng Trà Lộc, Hải Lăng. Cũng xin nói thêm là làng Đại An Khê ngày nay gồm ba làng trước đây sát nhập lại: Đại Nại, An Thái và Ba Khê. 


(hình ảnh được chụp ngày 8-7-2014)

Thứ Năm, ngày 02 tháng 6 năm 2016

Ngôi chùa có miếu thờ linga và yoni !

* Mai Lĩnh

Đó là chùa Đông Lâm ở làng Cu Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ngôi chùa tọa lạc trong khu vườn rộng, có lẽ nằm trên vị trí một kiến trúc cổ xưa của người Chămpa trước khi hai châu Ô, Rí sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt từ cuộc hôn nhân của Chế Mân và công chúa Huyền Trân (năm 1306).

Qua nhiều thế kỷ với nhiều đổi thay, tang thương dâu bể; vùng đất này trải qua nhiều cuộc chiến, trong khu vườn chùa Đông Lâm chỉ còn sót lại dấu tích của một giếng cổ Chămpa, theo cách đào giếng xếp đá như vùng di tích giếng cổ ở Gio An (huyện Gio Linh, Quảng Trị). Theo lời nhà sư trụ trì hiện nay, người dân địa phương đã tìm thấy dưới đáy giếng hai vật thể điêu khắc đá mang hình tượng linga và yoni, người đã đưa lên đặt vào ngôi miếu nhỏ và tiếp tục nhang khói đến ngày nay như một hình thức thờ tự theo tín ngưỡng dân gian.

Ngoài ra, hiện vẫn còn sót lại một số viên gạch gốm cỡ lớn và vài thanh đá có chạm khắc mang hình thù như thường thấy ở các kiến trúc tháp Chăm. Các hòn đá xếp thành giếng cổ trước đây khá nhiều thì đã bị mất dần và người ta dùng gạch, xi măng xây lên thành giếng hình vuông theo kiểu của người việt để đánh dấu vị trí giếng xưa.

Hiện nay, từ cổng vào, đi qua một khoảng sân rộng vào đến chánh điện với 3 gian thờ Phật và Bồ tát, cũng có các hạng mục phụ như các chùa khác ở địa phương, gồm hậu liêu, nhà tăng... Nhìn từ ngoài vào, bên phải chánh điện có ngôi miếu nhỏ thờ hình tượng linga và yoni. Sau miếu là vị trí giếng cổ được xây thành hình vuông.
Khu vườn chùa rất rộng, nhìn vào chánh điện nằm giữa.
Giếng được xây thành hình vuông như kiểu giếng của người Việt  
Miếu thờ biểu tượng linga và yoni
Thanh đá thường thấy ỏ các kiến trúc tháp Chàm
Cổng vào chùa Đông Lâm
Liên quan đến câu chuyện ngôi chùa Đông Lâm có rất nhiều điều để tham khảo; xin giới thiệu hai bài viết của nhà nghiên cứu Trần Xuân An:

https://txawriter.wordpress.com/2015/12/03/lang-cu-lang-cu-hoan-lang-cau-hoan-quang-tri/ 

https://txawriter.wordpress.com/2015/12/04/phan-ung-do-ngo-nhan-dang-tiec-ve-bai-lang-cu/

Thứ Ba, ngày 31 tháng 5 năm 2016

Dấu chân chúa Nguyễn bên bờ sông Thạch Hãn

* Mai Lĩnh - Nguyễn Hiếu

Nguyễn Hoàng (1525 - 1613), tức là Chúa Tiên, là người tiên phong mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của chín đời Chúa Nguyễn, lập nên vương triều nhà Nguyễn.
Nguyễn Hoàng (sinh tại Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa) là con trai thứ hai của Nguyễn Kim (1468 - 1545) và bà Nguyễn Thị Mai (quê ở Hải Dương). Theo phả hệ họ Nguyễn ở Gia Miêu, ông là hậu duệ của Nguyễn Bặc.

Năm 1527, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, Nguyễn Kim phải tránh sang Lào, xây dựng lực lượng, tìm cách khôi phục nhà Lê. Lúc ấy Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi, Nguyễn Kim để Nguyễn Hoàng lại cho em ruột là Nguyễn Ư Dĩ nuôi dưỡng.
Lúc Nguyễn Hoàng 20 tuổi, Nguyễn Ư Dĩ thường khuyên Nguyễn Hoàng lập công danh sự nghiệp. Nguyễn Hoàng làm quan dưới triều Lê, lập nhiều công lớn, được vua Lê Trung Tông phong tước Thái úy Đoan Quốc Công.

Năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều đình Hậu Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm, anh trai Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, Nguyễn Hoàng cho người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin lời khuyên, Trạng Trình nói: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.

Ông nhờ chị ruột mình là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Chúa Trịnh cho vào trấn thủ đất Thuận Hoá (từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên Trịnh Kiểm đã đồng ý, bèn tâu vua Lê Anh Tông nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ (1558).

Năm 1558, Nguyễn Hoàng đem gia quyến cùng các tướng Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Văn Nham, Thạch Xuyên, Tường Lộc, Thường Trung, Vũ Thì Trung, Vũ Thì An và hàng nghìn đồng hương thân tín Thanh - Nghệ xuống thuyền vào nam. Đoàn thuyền đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và đã chọn nơi này để lập thủ phủ gọi là dinh Ái Tử.

Năm 1569, Trịnh Kiểm phong cho Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa. Tháng 01 năm 1570, Nguyễn Hoàng dời dinh về làng Trà Bát, nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc, cạnh bờ tây sông Thạch Hãn (nay là làng Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Gọi là Dinh Trà Bát. Năm 1600, ông mới dời dinh sang phía đông của dinh Ái Tử, gọi là Dinh Cát.

Làng Trà Liên Tây

Nơi xưa kia, chú Tiên lập dinh Trà Bát.

Sông Thạch Hãn chảy qua làng Hậu Kiên (cạnh làng Cổ Thành và chợ Sãi xưa) thì uốn cong 90 độ về hướng tây một đoạn lại quanh 90 độ tiếp vè hướng bắc. Ở khúc quan thứ hai, dòng sông bị xói lở (dù đã bị đập Trấm ngăn sức nước chảy từ nguồn về). Ảnh chụp ngày 26/4/2016 ở vị trí làng Tiền Kiên, nơi bờ sông có những mảnh vỡ bằng sành, có thể là dấu tích của vùng sản xuất gốm xa xưa. Tả Kiên và Tiền Kiên nằm về phía nam của làng Trà Liên Tây, vị trí của dinh Trà Bát ngày xưa.
Am nhỏ, nơi đặt tượng ngài Nguyễn Ư Dĩ nằm trong khuôn
viên đình làng Tà Liên Tây hiện nay.

Tượng Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.










Vùng Trà Bát xưa, đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại và một số di tích sau hơn 400 năm và những thời gian chiến tranh ác liệt tàn phá. Các bạn có thể đọc thêm một số thông tin từ báo chí, như:


Rải rác ở khu vực làng Tiền Kiên ngày nay vẫn còn dấu tích những ngôi mộ cổ của những người Chăm (châu Ô, châu Rí) từ trước khi Chúa Tiên vào đây dựng nghiệp.

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 5 năm 2016

Quảng Trị - đi nhớ về thương

Lời ngỏ
Ảnh: Nos HP

Tôi lớn lên bên dòng sông Thạch Hãn, hồn nhiên, vô tư như bao đứa trẻ của vùng đất quanh năm “nắng cháy, mưa dầm”, với hai mùa gió Lào khô rát và gió bấc rét thấu xương. Tôi đã sống trọn mười lăm năm thời niên thiếu ở Quảng Trị. Đó là giai đoạn cho một đứa trẻ quan sát, cảm nhận và khai phóng tư duy để hình thành nhân cách. 
Và, cũng quá đủ để suốt mấy chục năm dài sau đó, lang bạt nhiều nơi nhưng lúc nào tôi cũng đau đáu nhớ về vùng đất ấy với bao hoài niệm về một cộng đồng thân thương, gắn bó. Cộng đồng ấy gồm những người bạn láng giềng, bạn học, thầy cô giáo, anh em cùng sinh hoạt trong phong trào Hướng Đạo và tổ chức Hồng Thập Tự... và cả những người nông dân không quen biết, tôi gặp được trong những chuyến đi về vùng thôn dã... Tôi học được rất nhiều điều từ cộng đồng ấy. Tôi mang ơn tất cả mọi người.

Bước qua tuổi 65, tôi chợt nhận ra mình đang mang một món nợ; món nợ nghĩa tình của đất và người Quảng Trị. Thế là tôi xách máy ảnh lên đường, mong tìm lại những “hình ảnh trong ký ức tuổi thơ” và thực hiện tập sách ảnh này như một lời cám ơn.

Dùng hình ảnh hôm nay để thể hiện tình cảm và kể lại những cảm nhận về một vùng đất đầy ắp kỷ niệm trong ký ức tuổi thơ đã qua đi hơn nửa thế kỷ quả là một việc khó. Rất khó! Nhưng biết làm sao hơn khi “món nợ tự đòi” cứ hàng ngày thôi thúc.

Vậy nên, mong mọi người thông cảm cho cái tâm nguyện vừa “tham lam” vừa “liều lĩnh” mà lượng thứ. Xin mời anh, chị, cùng tôi bước về vùng xưa cũ, chia sẻ tình quê.



Thứ Sáu, ngày 29 tháng 1 năm 2016

Nhà thờ Núi giữa thành phố biển

  • Phạm Đình Quát
Toạ lạc trên một ngọn đồi nhỏ cạnh ngã sáu trung tâm thành phố Nha Trang là một kiến trúc hoành tráng, sừng sững trên nền trời xanh ngát, quanh năm lộng gió đại dương, luôn thu hút sự chú ý của những người từng đặt chân đến miền đất thuỳ dương cát trắng dịu hiền này.

Theo thi sĩ Quách Tấn viết trong Xứ Trầm Hương thì ngọn đồi có ngôi thánh đường thường gọi là Nhà thờ Núi hay Nhà thờ Đá, vốn xưa là Hòn Một - tên chữ là Hoa Sơn - được ví như con Rùa Vàng (Kim Quy) trong thế phong thuỷ Tứ thuỷ triều quy, tứ thú tụ của cuộc đất xứ Nha Trang. Phía nam Hòn Một là rừng mai vàng hoang dã; loài mai biển hiện chỉ còn rất ít ở vùng Thuỷ Triều, thuộc bán đảo Cam Ranh. Để mở rộng đô thị, người Pháp đã xẻ núi làm đôi mở đường Phước Hải (nay là đường Nguyễn Trãi). Nửa phía đông,  đến nay dấu tích núi Một vẫn còn dù người ta đã đục phá, lấy đất xây nhà ở. Nửa phía tây,  được coi là phần thân của Rùa Vàng cũng bị đánh mìn san phẳng mặt bằng để xây dựng nhà thờ.

Vòm mái điện thờ.
Nội thất.
Năm 1928, dự án xây dựng nhà thờ Chánh Toà được xúc tiến do linh mục Louis-Vallet-Mep (1846-1945) chủ trì. Trước đó vị linh mục này đã hoàn thành việc xây dựng nhà thờ Chánh Toà thành phố Đà Nẵng, trước khi vào Nha Trang thành lập giáo xứ Chánh Toà Nha Trang. Đầu tiên, Nhà Xứ và các công trình phụ được hoàn thành vào tháng 3/1930 rồi mới xây dựng phần chính của công trình và được cử hành lễ khánh thành long trọng vào ngày 14-5-1933. Trước đó - ngày 12-2-1933 - trong một chuyến công du, vua Bảo Đại đã đến thăm khi công trình đang được hoàn thiện. Lúc ấy, bộ chuông đồng đúc ở Pháp chở sang được treo tạm trên tháp gỗ riêng (29-7-1934). Mãi đến ngày 01-4-1935, phần tháp chuông như hiện nay - cao 32m tính từ mặt sân nhà thờ - mới được khởi công và hoàn thành sau đó 4 tháng.
Mặt trước nhà thờ quay về hướng Bắc, có hai lối đi lên. Phía trước có 53 bậc cấp đi bộ từ đường Thái Nguyên lên, qua cổng là đến Hang đá Đức Mẹ Lộ Đức, xây dựng tháng 4-1940. Lối thứ hai đi từ quảng trường cạnh ngã sáu vòng quanh phía sau lên sân nhà thờ có độ cao chừng 8m so với mặt đường phố chung quanh. Con đường này được lát đá chẻ năm 1941. Nhà nguyện dài 39m và rộng 19m4 (tính cả hành lang dọc hai bên). Phía sau - nối liền với nhà nguyện - là khu nhà sinh hoạt và làm việc của giáo xứ kéo dài thêm chừng 28m  nữa.
Lối đi lên nhà thờ vòng mé tây.

Mặt trước
Có một điều thú vị là rất nhiều người - kể cả một số giáo hữu Công giáo tại Nha Trang - vẫn lầm tưởng công trình kiến trúc đồ sộ này được xây dựng hoàn toàn bằng đá chẻ, một loại vật liệu xây dựng kiên cố, có rất nhiều ở Nha Trang và khắp tỉnh Khánh Hoà. Vì thế ngoài tên gọi chính thức là Nhà thờ Chánh Toà, còn có tên Nhà thờ Núi (vì ở trên núi) và... Nhà thờ Đá. Mô hình nhà thờ này khiến nhiều người - dù không am hiểu về nghệ thuật kiến trúc - liên tưởng đến những thành quách, lâu đài ở La Mã cổ đại với vách tường xây đá trần trụi; đặc biệt là những vòm cuốn dọc hành lang hay cửa sổ lắp kính màu  hoa văn trang trí rất xa lạ với kiểu thức kiến trúc phương Đông. Sự thật thì đá chẻ chỉ được dùng lát đường và sân. Toàn bộ hệ thống trụ chịu lực được đúc bê tông cốt thép, còn những mảng tường được xây gạch thẻ, tô xi măng rồi kẻ chỉ. Một số người quan sát gần, biết tường nhà thờ không phải đá chẻ nhưng lại tưởng là xây bằng táp-lô đúc xi măng! Đặc biệt, chỉ phần mái bằng của hành lang chạy dọc hai bên được đổ bê tông cốt thép, còn toàn bộ mái vòm bê tông của nhà nguyện đều được dùng cốt tre cật và lưới thép mắt cáo.
Trần nhà mái vòm

Kính màu trang trí mặt trước
Kính màu cửa bên phải
Năm 1998, khi linh mục Phê-Rô Nguyễn Quang Sách xây dựng nối thêm ba phòng sinh hoạt ở phía sau đã giữ nguyên các chi tiết kiến trúc của nhà thờ. Chỉ khác là tường được xây bằng táp-lô đúc xi măng và mái bê tông cốt thép.
Chúng tôi rất tiếc là không tìm được tài liệu chính thức về tên vị kiến trúc sư người Pháp đã thiết kế công trình này và những ghi chép về những biện pháp thi công mà chỉ ghi nhận theo lời kể của một số nhân chứng đã cao tuổi nói rằng chỉ có mười người thợ làm việc dưới sự điều khiển trực tiếp của linh mục Louis Vallet (?!). Khi nhà thờ này được thiết kế và xây dựng, chưa có ga Hoả Xa Nha Trang với đường sắt chạy vòng sát dưới chân ngọn đồi của nhà thờ rầm rập ngày đêm và rất dễ hình dung rằng những người thợ đã làm việc trong điều kiện rất thô sơ so với công nghiệp xây dựng hiện đại bây giờ. Tính từ ngày khánh thành đến nay, nhà thờ Chánh Toà Nha Trang đã tròn 70 năm tuổi. Công trình xây dựng này vẫn vững chãi và xứng đáng là một kiến trúc hoành tráng, một thắng cảnh độc đáo của thành phố biển Nha Trang.
Phần mới xây năm 1998

Phần mộ LM Louis Vallet












Kiến trúc ngôi Nhà Thờ Nha Trang không giống phần đông nhà thờ khác trong toàn quốc. Kiểu thức vừa cổ kính vừa tân kỳ. Tất cả vách, mái, nền, cột đều toàn xi măng. Và đứng chắc trên một đầu non, với "bộ áo xám tro", hình tướng trông nửa như khiêm nhường, nửa như ngạo nghễ. Lại gần nhìn kỹ lại có vẻ nghiêm khắc cô cao. Nhờ những khóm trúc đào hoa nở quanh năm ở trước sân, nhất là khóm đa xanh mát đứng che Tiểu Vương Cung của đức Bà Maria ở đầu bậc cấp bước lên, làm cho "nét mặt" Nhà Thờ bớt phần khô khan lạnh lạt.
Lầu chuông cao ngất!
Lên đứng nơi gác chuông nhìn ra bốn mặt, thì vọng cảnh trùm cả toàn diện thành phố Nha Trang. Trông tới ngó lui, nước non, nhà cửa, nơi gần nơi xa, nơi ẩn nơi hiện, khoái con mắt, hả tấm lòng, nhiều khi tưởng mình đương đứng nơi trung tâm điểm của vũ trụ.
Cho nên Nhà Thờ Chánh Toà Nha Trang cũng là một danh thắng của địa phương vậy.
·        Trích "Xứ Trầm Hương" - QUÁCH TẤN - Lá Bối xuất bản 1969 (trang 169) - Hội Văn Học Nghệ Thuật Khánh Hoà tái bản 2002 (trang 157).