Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

“Ẩn số” Phan Phụng Thạch

  • Phạm Đình Quát
Thầy Phan Phụng Thạch
Niên khóa 1965 - 1966, lớp đệ Lục 3 học ở phòng đầu gần sân vận động, dãy nhà quay mặt ra đường Quang Trung (nối dài); thầy Phan Phụng Thạch dạy môn Toán làm giáo sư hướng dẫn. Năm học trước, giáo sư hướng dẫn là cô Hảo, dạy Văn - là một phụ nữ dịu dàng, gần gũi, không khí sinh hoạt, học hành trong lớp đầm ấm như một gia đình. Năm học mới bắt đầu hơn một tháng, cái lớp toàn nam sinh này đã trổ mòi quậy phá trong giờ học. Lớp học nằm xa khuất tầm mắt phòng giám thị, một đám con trai bước vào tuổi dậy thì - cái tuổi không muốn làm “con nít” nhưng cũng chưa đủ chững chạc để làm “người lớn”; nhưng nguyên nhân chính, có lẽ do thầy giáo hướng dẫn quá hiền lành, ít nói và hay vắng mặt, bỏ giờ lên lớp.

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Chi lạ rứa!

Nguyễn Thị Hoàng (*)
  • Nguyễn Thị Hoàng 
Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,
Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.
Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!

Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!

Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!

Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.
Tác phẩm đầu tay của NTH.


Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.

Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nỗi!

Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?

Tui cũng muốn có một người tri kỷ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa?

Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa,
Bởi vì răng tui có hiểu chi mô!
Vì lòng tui là mặt nước sông hồ,
Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.

___________________________________________________________________

(*) Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng - bút danh Hoàng Đông Phương - sinh năm 1939, quê ở làng Quảng Điền, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Bà học trường Đồng Khánh (Huế) rồi vào Đại học Luật và Văn khoa Saigon nhưng bỏ ngang sau năm thứ 2. Sau đó, có thời gian bà dạy học, viết văn, làm thơ.
Nổi tiếng với tác phẩm đầu tay là tiểu thuyết Vòng tay học trò (năm 1966). Một số tác phẩm khác: Về trong sương mù (1967) - Trên thiên đường ký ức (1968) - Một ngày rồi thôi (1969) - Nước mắt (1969) - Cho đến khi chiều xuống (1969)…

* Nguồn: https://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/2012/10/07/nha-van-nguyen-thi-hoang-nguoi-dan-ba-dep/

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Vườn cò Bằng Lăng

  •  Mai Lĩnh
Trước đây, khách du lịch đi trên tuyến đường từ Châu Đốc về Cần Thơ thường ghé tham quan vườn cá sấu ở Long Xuyên rồi mới ghé qua vườn cò Bằng Lăng. Nay thì chỉ còn vườn cò là địa chỉ thu hút khách du lịch vào mỗi buổi chiều trên tuyến đường này.

Vườn cò Bằng Lăng là một trong những sân chim lớn và hấp dẫn nhất trong số các sân chim khác ở Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Sân chim này ở xã Thới Thuận, quận Thốt Nốt, cách thành phố Cần Thơ 52km theo quốc lộ 91 đi Long Xuyên. Vườn rộng hơn 2 héc ta và có trên hàng chục ngàn con chim, cò, cồng cộc… sống chung trong vườn lẫn với hàng ngàn chim các loại. Chỉ riêng cò, ở đây có nhiều loại như cò ruồi, cò cá, cò ngà, cò ma, cò xanh, cò lép, cò đúm, cò sen, cò quắm… Loại nhỏ nhất là cò lép, chỉ nặng chừng 150g. Lớn nhất là cò ngà, cò quắm nặng hơn 1 kg.



Du khách có thể đi bằng ghe xuồng chạy ra sông Hậu rồi cặp theo con rạch nhỏ dẫn vô vườn cò hay có thể đi xe mô tô, xe đạp men theo con đường bê tông dưới hàng tre rợp bóng mát uốn lượn theo dòng kênh rạch hiền hòa.



Thời gian ngắm cảnh vườn cò thích hợp nhất vào khoảng 5 giờ chiều. Đây là thời điểm cò tìm về tổ. Chúng hạ cánh ngược với hướng gió, chúng chao cánh, lượn qua lượn lại rồi sà xuống trên những cành cây đong đưa theo gió.



Giống cò ruồi lông trắng, mỏ vàng chân đen chiếm khoảng 80% số chim ở vườn này. Một con nặng chừng nửa kg.


Thời gian cò về mỗi chiều kéo dài gần hai tiếng đồng hồ, những con đi ăn xa về muộn thường bị chiếm chỗ, phải tìm chỗ đậu xa những cặp “vợ chồng” để tránh đòn ghen thường rất dữ dội.
Trong vườn cò có một tháp quan sát cao khoảng 10 mét, từ đó, du khách có thể ngắm nhìn, chụp ảnh những đàn cò bay về vườn sau một ngày kiếm ăn khắp nơi.

Thăm vườn cò, trò chuyện với ông Bảy Thuyền (Nguyễn Ngọc Thuyền) chủ nhân khu vườn này, du khách sẽ được nghe những câu chuyện kể thú vị về cò và các loài chim ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ông Bảy Thuyền có lối nói giản dị nhưng rất có duyên và nhiều thông tin, kiến thức thực tiễn về đời sống các loài chim.
________________________________
Đã đăng trên The Saigon Times Online.

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Chợ sò Hà Thủy

  • Đỗ Thành 
Chợ sò Hà Thủy. Ảnh: Huỳnh Nam

Đất Bình Thuận xưa rày vốn có nhiều thắng cảnh. Từ thuở nao, người ta đã biết đến bãi Thương Chánh, lầu ông Hoàng, sở Muối, sông Cà Ty, bến cảng Tuy Phong, bãi biển Mũi Né, đảo Phú Quý... Ngoài ra, Bình Thuận còn có những nơi ít người chú ý nhưng có sức hấp dẫn với những tay du lịch bụi và những người say mê nhiếp ảnh. Chợ sò Hà Thủy là một ví dụ. 

Những tay săn ảnh thường muốn đi vào ngõ ngách của mọi địa phương để quan sát và ghi hình cuộc sống và công việc làm ăn thường ngày của người dân tại chỗ, thể hiện sắc thái văn hóa và nét riêng của mỗi địa phương.

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Lễ hội

  • Tư Miền Biển
Trong vài thập niên gần đây, cụm từ “lễ hội” được dùng nhiều đến mức... 'loạn xà ngầu'; nhiều trường hợp lại có thêm cái đuôi “truyền thống” nữa. Thế nhưng, vài lần tôi cắc cớ, hỏi thử mấy nhà tổ chức thì họ ngắc ngứ, không biết việc họ đang làm là cái... "lễ" gì!
Cùng với sự lạm phát “lễ hội” thì danh từ kép “hội hè” ít khi nghe nhắc tới. Mặc dù trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học (NXB Khoa học Xã hội - Hà Nội - 1988) chỉ có mục từ “hội hè” mà không hề có mục từ “lễ hội”.
Lâu nay, chắc bạn đọc thường nghe nói tới “lễ hội đâm trâu” của các dân tộc ở Tây nguyên. Thực ra, đâm trâu chỉ là một nghi thức, một ‘tiết mục’ trong những dịp ăn mừng nào đó của một gia đình hay buôn làng như các ngày cúng mừng lúa mới, mừng nhà mới, lễ bỏ mả... người ta giết trâu ăn mừng. Sau nghi thức đâm trâu, họ xẻo thịt dâng cúng thần linh trước khi chia phần cho mọi người cùng ăn uống, ca múa với nhau. Tập quán này hình thành từ truyền thống gắn bó cộng đồng buôn làng, mọi việc đều chia sẻ với nhau, cùng làm cùng hưởng. Thế thôi, chẳng phải là ngày hội và tự thân việc đâm trâu không phải là lễ.
Trong vài thập niên gần đây, có những hoạt động văn hóa do cơ quan, đoàn thể... tổ chức hội thi, hội diễn như một công tác của họ, nhưng dựa vào các tập quán sinh hoạt cộng đồng người Tây nguyên và gọi đó là những lễ hội. Những sự kiện đó mang tính “sân khấu hóa” hoạt động ngoài trời, hoàn toàn không đúng - thậm chí là không phù hợp - với bản chất, ý nghĩa của sự việc mà chỉ nặng phần trình diễn. Trong một số trường hợp, bà con người dân tộc Tây nguyên đóng vai trò diễn viên, múa may cho đám đông khán giả từ nơi khác đến xem vì hiếu kỳ và phục vụ cho các nhà nhiếp ảnh, quay phim... là chính.
Ảnh: Huỳnh Công Bá (TPHCM)

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội xưa


Những tiếng rao không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc, có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta.

Tiếng rao của những người bán hàng rong khiến cho phố phường tại các đô thị của Việt Nam trở nên rất sinh động. Điều này khiến cho những người nước ngoài cảm thấy thú vị. Tuy vậy, rào cản ngôn ngữ thường khiến cho họ không hiểu gì cả.

Để “giải mã” những âm thanh đặc biệt kể trên, vào năm 1929, tác giả Pháp F. Fénis đã xuất bản một cuốn sách mỏng có tiêu đề “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” (Les marchands ambulants et les cris de la rue à Hanoi). Cuốn sách gồm 40 trang đã mô tả khá đầy đủ về các loại hình hàng rong và tiếng rao tương ứng ở Hà Nội thông qua hình ảnh và khuôn nhạc minh hoạ.

Những hình vẽ minh hoạ trong ấn bản này do các học viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, trong đó có Tô Ngọc Vân - người sau này trở thành hoạ sĩ nổi tiếng của Việt Nam - thực hiện.

Gió mùa ở Ninh Thuận là gió gì?


Chiều thứ Ba (18/11/2014) khi đi ngang địa phận tỉnh Ninh Thuận - suốt từ ga Tháp Chàm (khá xa biển) cho đến vùng bờ biển Cà Ná - nhìn qua cửa kính tàu lửa, tôi thấy hai bên đường, những cây dừa, dương liễu và các loại cây thấp hơn đều nghiêng hẳn về phía nam bởi gió thổi mạnhk liên tục. Cảnh vật trông như mùa gió Nam ở Phú Yên hay gió Lào ở Quảng Trị. Do ngồi trong toa tàu kín nên tôi không biết nhiệt độ bên ngoài thế nào.

Gọi cho một đồng nghiệp ở Phan Rang, mười phút sau được cho biết đó là gió ‘nồm’; theo một người dân địa phương, đây là gió mùa ở vùng này. Khoảng một giờ sau, bạn đồng nghiệp lại cho biết, vài người khác ở Phan Rang bảo đây là gió ‘bấc’.

Xưa nay, gió nồm dịu mát và mang độ ẩm từ phía đông nam thổi vào mùa hạ; còn gió bấc (tức là gió mùa đông bắc) đưa khí lạnh từ phương bắc xuống, thường không có sức gió mạnh như vậy.

Mở cổng thông tin của UBND tỉnh Ninh Thuận và Wikipedia ra tìm cũng không thấy nói chính xác tên gọi ngọn gió thổi mạnh liên tục theo hướng bắc nam này gọi tên là gì. Đành... chờ, khi có điều kiện sẽ tìm hiểu sau vậy!
Ảnh trên chụp phía bên phải đoàn tàu đang chạy hướng vào Sài Gòn. Các ảnh dưới chụp bên trái đoàn tàu.

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014

Chuyện kể rằng...

  • Tư Miền Biển
Từ bé, chúng ta đã được nghe truyền thuyết về nòi giống Tiên Rồng qua cuộc hôn nhân Âu Cơ - Lạc Long Quân, chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, chuyện Thánh Gióng, chuyện Chữ Đồng Tử và nàng Tiên Dung, chuyện chiếc nỏ thần của An Dương Vương với mối tình Mỵ Châu-Trọng Thủy....
Ngoài những truyền thuyết, huyền thoại chúng ta còn có cả kho tàng các sự tích về nguồn gốc các món ăn, các loài hoa, cây trái, chim muông, nhân vật và cả những cảnh vật tự nhiên... Nội dung những truyền thuyết, huyện thoại, sự tích... và cả sự phong phú, đa dạng của các câu chuyện ấy đã thể hiện rõ nét nhân sinh quan và tính cách của người Việt và chúng cũng như “gia vị” cho đời sống tinh thần thêm thi vị, lãng mạn và đáng yêu hơn.
Chúng ta lớn lên với thói quen nghe những câu “Chuyện kể rằng...” mà không mảy may nghi hoặc, chẳng phân tích, suy luận những điều được nghe trước khi tin vào những điều đó. Và có lẽ cái tính dễ tin này chính là nguyên nhân xuất hiện của vô số truyền thuyết, sự tích, huyền thoại... được ‘sản xuất’ và loan truyền vì những mục đích khác nhau.
Câu chuyện hai vị tiên đánh cờ trên đỉnh Sơn Trà (còn có tên là núi Tiên Sa, Hòn Nghê) và địa danh đỉnh Bàn Cờ không biết do ai ‘sáng tác’ và tự lúc nào, cũng như pho tượng ông tiên ngồi đánh cờ do nhà điêu khắc nào đục chạm và dựng lên đây lúc nào? Trong các bài báo mạng chỉ thấy nói là do... “người dân” địa phương dựng tượng (?!).
Các bài viết trên mạng thì lan nhanh như “bệnh truyền nhiễm”, chẳng tác giả nào chịu khó lục lại tài liệu trích dẫn của “ai đó” mà cứ phang bừa rằng Lê Quý Đôn kể chuyện hai ông tiên đánh cờ nói trên trong sách Phủ Biên Tạp Lục. Cứ thế sao chép hoặc “xào nấu” y như chính mình đã đọc và trích dẫn từ sách của học giả Lê Quý Đôn.
Nếu bạn nào đã lên thăm tượng ông tiên mê nhìn gái để thua cờ đó nhiều lần sẽ thấy bàn cờ đã thay đổi, vị trí, hình dạng và số quân cờ cũng thay đổi. Còn các bạn chưa có dịp lên tận đỉnh Bàn Cờ, có thể xem hai tấm ảnh dưới đây để thấy sự thay đổi trên bàn cờ.
Trong ảnh này, bàn cờ chỉ có 6 quân và các quân cờ khá mỏng.
Có thể thấy “ai đó” đã làm những việc này chứ đây không phải là di tích gì ráo; nhưng phải thừa nhận là họ đã thành công khi bịa ra truyền thuyết về đỉnh bàn cờ khi gán cho Lê Quý Đôn là người thuật chuyện. Có thêm một địa danh lôi cuốn du khách tham quan cũng là điều hay, chỉ e con cháu chúng ta lẫn lộn lung tung về các truyền thuyết... giả thật khó lường thì tội nghiệp cho chúng thay. Sao phải bịa ra sự tích, dàn dựng di tích trong khi di tích thật sự vẫn đang bị lãng quên, thậm chí tàn phá chỉ vì kinh doanh du lịch nhỉ?
Ảnh này thì bàn cờ có nhiều quân cờ với độ dày hơn gấp đôi quân cờ trong ảnh trên.
Ảnh do Phạm Hồng Sơn chụp chiều ngày 16/11/2014:

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

Nỗi buồn An Lăng


  • Bài và ảnh: Phạm Hồng Sơn

Khách du lịch đến Huế, ai cũng muốn thăm các di tích triều đại nhà Nguyễn mà ngoài hoàng thành xưa là các lăng tẩm các vị vua, chúa Nguyễn. Nhưng có lẽ ít ai có dịp viếng An lăng - hiện nay là nơi an nghỉ của ba vị vua: Dục Đức, Thành Thái và Duy Tân. Đây là khu lăng mộ có kiến trúc đơn giản nhất của các vua nhà Nguyễn nhưng mang nặng câu chuyện đau thương của cả ba ông hoàng trong giai đoạn lịch sử chính trị rối ren nhất của vương triều nhà Nguyễn.

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Chùa bên hè phố



Câu chuyện được kể lại bởi phóng viên báo SF Gate và đài truyền hình KPIX5: một tượng Phật nhỏ để ở góc phố, nơi đầy dẫy tội hình sự xảy ra, thế rồi trở thành một cái am nhỏ, và tội phạm giảm 82%... Chuyện hy hữu này xảy ra ở thành phố Oakland, Bắc California.

Phóng viên Chip Johnson kể lại trên báo SFGate.com ngày 15-9-2014, rằng pho tượng Phật đã làm cho một khu phố Oakland bình an.

Dan Stevenson không phải Phật Tử, cũng không phải tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào. Anh chỉ là một người dân bình thường trên đường 11th Ave., trong khu phố Eastlake của Oakland. Năm 2009, khi vào tiệm bán vật dụng xây dựng Ace, chợt khởi tâm từ bi và đã mua pho tượng Phật cao 2 feet (tương đương 61 centimet) bằng đá, và anh gắn tượng này vào một góc phố trong khu cư dân góc đường 11 và đường 19.

Hương án thờ Phật trong
mái am nhỏ góc phố
Anh hy vọng rằng tượng Phật để góc phố như thế sẽ làm bình an cho khu phố khét tiếng về tội hình sự này, nơi đủ thứ chuyện mua bán ma túy, sơn xịt, xả rác, bán dâm, cướp bóc, đánh nhau và trộm cắp.

Vậy mà tuyệt vời, theo bài báo SFGate và đài KPIX. Cư dân tới cúng nơi chân tượng Phật: hoa, thức ăn, đèn cầy. Một nhóm phụ nữ Việt Nam mặc áo tràng bắt đầu tới trước pho tượng tụng kinh, cầu nguyện.

Khu phố thay đổi lạ kỳ. Dân chúng không xả rác vào góc phố này nữa. Bọn thanh niên ngưng màn sơn xịt các bức tường quanh đó. Các tay buôn ma túy cũng kiếm chỗ khác làm ăn. Các cô gái mãi dâm lẳng lặng tìm nơi tụ tập xa hơn.

Phóng viên Chip Johnson hỏi cảnh sát về thống kê tội hình sự khu phố quanh pho tượng. Kể từ năm 2012, khi quý bà tới tụng kinh hàng ngày, tội hình sự giảm 82%. Các trường hợp cướp bóc giảm từ 14 vụ xuống còn 3 vụ, tấn công từ 5 vụ xuống thành số không, trộm từ 8 vụ còn 4 vụ, ma túy từ 3 vụ xuống số không, và bán dâm từ 3 vụ xuống cũng số không.

Người cảnh sát thống kê nói rằng không thể nói nguyên nhân vì sao, nhưng đó là các số thống kê.

Hồi năm 2009, khi người ta nghe chuyện Stevenson gắn pho tượng, bất ngờ nhiều thứ cúng dường tới đặt nơi cửa nhà anh. Nghe y hệt như trong cuốn phim của Clint Eastwood có tựa đề "Gran Torino."

Stevenson kể, “Người ta để cả tấn trái cây, và thức ăn đặc sản Việt Nam, và kẹo nữa, nhưng chỉ có tôi và vợ tôi tên là Lu đây và chúng tôi không ăn hết nổi, nhưng chuyện cảm động là vậy”.

Anh nói với nhà báo, “Tôi đã cố gắng giảỉ thích về lý do đặt tượng Phật ở góc phố. Tôi không có gì xúc phạm hết, nhưng tôi không tin những gì quý vị tin.”.

Vậy mà anh chàng vô thần Stevenson đã biến đổi cả khu phố.

Bây giờ, cứ mỗi buổi sáng, lúc 7 giờ sáng, các Phật tử rung chuông, gõ mõ, tụng kinh buổi sáng. Pho tượng nguyên thủy bây giờ được đặt trong một cái am nhỏ xây lên, trong đó có kiến trúc ngôi chùa gỗ tí hon, cao 10 feet (tương đương 3 mét), và trong am này có thêm một số tượng nhỏ nữa và vật phẩm thờ cúng.

Alicia Tatum, 27 tuổi, nói với phóng viên, “Chỗ này hồi đó bị người ta tới xả rác. Nhưng bây giờ chung quanh là hoa cúng Phật và cứ mỗi sáng quý bà ra góc phố này tụng kinh”.

Và những ngày cuối tuần, tín đồ tới khoảng hơn chục người: dân da đen, dân da trắng, đủ sắc dân... theo lời Andy Blackwood, một cư dân gần đó. Mới hai tuần trước, một nhóm du khách Đức quốc tới thăm ngôi am tí hon này.

Blackwood nói, “Mấy tay buôn ma túy biến đi hẳn rồi, các cô gái giang hồ cũng không thấy tới nữa”.

Ngồi chùa tí hon thờ Phật này hai lần đứng vững trước nỗ lực muốn gỡ bỏ: một lần là từ dân hình sự, lần thứ nhì là từ chính quyền. Cả 2 lần đều không đẩy được tượng Phật này đi.

Hồi mới gắn tượng Phật ra góc phố, một tên trộm tìm cách cạy tượng này ra, nhưng Stevenson trước đó đã hàn cứng khung bằng các thanh sắt và đế dán bằng keo tổng hợp trị giá 35 đô la. Thế nên, tượng Phật không hề nhúc nhích.

Rồi vào năm 2012, sau khi một cư dân than phiền, thành phố cho nhân viên xuống gỡ pho tượng, nhưng dân chúng túa ra bảo vệ ngôi chùa tí hon, và các viên chức thành phố quyết định là sẽ “nghiên cứu” thêm chuyện này. Hai năm sau, chuyện này không được chính quyền nhắc tới nữa, và tượng Phật vẫn an vị nơi đó.

Khi phóng viên Chip Johnson tới thăm ngôi chùa nhỏ này, nhằm lúc có 4 phụ nữ nơi đó, họ không nói hay không hiểu được tiếng Anh, nhưng có vẻ như họ nghĩ rằng Johnson là người mới chuyển sang theo đạo Phật.

Phóng viên báo SFGate kể rằng khi anh bắt đầu nói, một phụ nữ trong nhóm đó lễ phép lấy cây bút của anh từ một tay, lấy cuốn sổ từ tay kia, và hướng dẫn anh cách chắp tay trước ngực, cúi đầu vái pho tượng và lập lại lời niệm Phật theo phụ nữ này. Anh Johnson cũng làm theo y hệt vậy.

Đám đông nhìn thấy anh chắp tay, niệm Phật như thế... đã “oh... rồi ah”... Phụ nữ kia mới bảo anh Johnson ngồi xuống, xếp bằng trên một chiếc thảm đặt trên đường, và đặt một kệ gỗ với cuốn kinh trước mặt anh Johnson... Anh ngồi như thế và hạnh phúc thấy anh ngồi kiểu giống hệt như Đức Phật. Và anh nghĩ, có lẽ đó là lý do quý bà Phật tử chung quanh ưa thích thấy anh như thế.

Thế rồi, khi anh đưa ra một câu hỏi... và lần này, vị phụ nữ hướng dẫn tâm linh như dường hiểu, và nói mấy chữ tiếng Anh - “Next week” - hẹnanh tuần sau. 

Anh Johnson nghĩ rằng anh đã tìm thấy đủ những gì anh tìm... và kết quả là bài phóng sự ra mắt bạn đọc trên báo SFGate.com.

(Người dịch: Trần Khải).